Các nhà văn chiến đấu ở chiến trường Điện Biên
Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với vai trò người lính thực thụ, Chính Hữu, Dũng Hà, Hồ Phương, Chu Phác có cơ hội hiểu rõ thêm về tình đồng chí, sự hy sinh, những mất mát cao cả của các chiến sĩ Điện Biên…
Giờ đây, họ không chỉ trở thành những cán bộ cao cấp của Quân đội mà còn là những nhà văn tên tuổi. Những ký ức lịch sử đã giúp họ có nhiều trang viết sâu sắc và tâm huyết về những năm tháng máu lửa ở Điện Biên.
Nhà thơ Chính Hữu: Để hiểu thế nào là giá từng thước đất ở Điện Biên
![]() |
|
Nhà thơ Chính Hữu. |
Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc. Khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ông vừa tròn 28 tuổi và là Chính trị viên Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308, đơn vị chiến đấu ở cánh đồng phía tây, trong đó có cứ điểm đồi Độc Lập. Lúc đó Chính Hữu đã có bằng Tú tài phần 2 ban Triết học Trường Louis Pasteur (Hà Nội) và khá nổi tiếng với các bài thơ: Ngày về, Đêm Hà Nội, Đồng chí.
Là chỉ huy cấp tiểu đoàn ở một đơn vị trực tiếp chiến đấu trong chảo lửa Điện Biên, biết bao công việc, tình huống... giữa sự sống và cái chết đến nay khiến ông còn day dứt. Ông kể: “Nhiều ngày, đêm liên tục, chúng tôi vừa rũ đất, vừa đánh địch để tiến sâu vào trung tâm Mường Thanh, vô cùng mệt mỏi và căng thẳng. Là chính trị viên, hằng ngày tôi phải lo chôn cất đồng đội của tôi hy sinh. Và tôi nhận thấy một điều: Bạn tôi không một người nào chết trong tư thế nằm ngủ hoặc được trong tư thế nghỉ ngơi. Họ hy sinh trong khi đang bắn, hoặc ôm bộc phá xông lên...
Sau giờ chiến thắng, đứng trên nóc sở chỉ huy địch ở trung tâm Mường Thanh, phóng tầm mắt xa xa, thấy thấp thoáng những nấm mồ đồng đội, tôi nghĩ đến cái giá phải trả của từng thước đất: Bạn đã lấy thân mình đo bước/ Chiến hào đi/ Ta mới hiểu giá từng thước đất”.
Ông còn cho biết, bài Giá từng thước đất với những câu thơ đầy ám ảnh như: Bạn ta đó, ngã trên dây thép ba tầng/ Một bàn tay chưa dời báng súng/ Chân lưng chừng nửa bước xung phong/ Ôi những con người mỗi khi nằm xuống/ Vẫn nằm trong tư thế tấn công... phải đến năm 1961 ông mới viết xong và cho công bố.
Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà thơ Chính Hữu, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt 2 (tháng 9/2000), người chiến sĩ Điện Biên năm xưa vừa tròn 78 tuổi và hiện giờ sức khỏe rất yếu.
Người bạn đời của ông - bà Nguyễn Thị Xuân Lịch cho biết, từ 5 - 6 năm nay ông bị mắc nhiều bệnh như: thiểu năng tuần hoàn não, suy mạch vành, cao huyết áp... nên hay nhớ nhớ, quên quên, rất ngại tiếp khách... Ông nói với bà, nhân dịp Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, ông rất nhớ Điện Biên, rất muốn thăm lại chiến trường xưa nhưng đành chịu. Hãng phim Hội Nhà văn mời ông đi để dự Lễ khánh thành khu tưởng niệm đồng đội, mà ông cũng không đi được. Ông có nhờ nhà văn Hữu Mai khi đến Điện Biên đọc hộ ông bài thơ Giá từng thước đất để tưởng nhớ anh em, đồng đội đã hy sinh.
Thiếu tướng - nhà văn Dũng Hà: “Trận chiến ấy đã thôi thúc tôi cầm bút”
![]() |
|
Nhà văn Dũng Hà. |
Ngày đó, Dũng Hà là một thanh niên mới tròn 25 tuổi, là Chính trị viên Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Bước vào chiến dịch Điện Biên, đơn vị ông được giao nhiệm vụ mở mặt trận phía đông Mường Thanh đánh đồi A1. Cứ điểm này do một Tiểu đoàn lính Âu - Phi phòng ngự, chỉ cách trung tâm Mường Thanh và sở chỉ huy địch chừng 500m đường chim bay.
Ngày 30/3/1954, Trung đoàn 174 được lệnh đánh đồi A1, cuộc chiến diễn ra ác liệt một ngày đêm. Cả địch và ta đều bị thương vong, ta chỉ chiếm được một phần quả đồi, lại ở vào thế bất lợi phía dưới, còn địch ở phía trên. Giữa lúc tình hình căng thẳng quyết liệt, Bộ Tư lệnh quyết định rút Trung đoàn 174 ra và điều Trung đoàn 102 của Sư đoàn 308 vào đánh tiếp, Trung đoàn 174 chỉ để lại 2 đại đội làm nhiệm vụ dẫn đường.--PageBreak--
Tuy nhiên, Trung đoàn 102 cũng chỉ đánh một ngày đêm rồi phải rút ra. Từ ngày 2/4, Trung đoàn 174 tiếp quản trở lại và cuộc chiến dai dẳng đến 4 giờ sáng ngày 7/5 thì ta chiếm được đồi A1.
Nhà văn Dũng Hà kể, cuộc chiến trên đồi A1 diễn ra rất quyết liệt, bộ đội ta vừa đánh, vừa củng cố các vị trí đã chiếm được, có những chỗ chỉ cách địch 5-7m. Đất chiến hào bị đạn cày sới tơi như bột. Với chiến thuật đào hào đánh lấn, riêng việc đào hầm, Tiểu đoàn 251 bị thương vong 60 đồng chí.
Đến ngày 6/5, hệ thống đường hào do bộ đội ta đào từ cửa rừng đã đến sát hàng rào của địch, lực lượng ta đặt quả bộc phá, một tấn thuốc nổ hướng vào lôcốt mẹ. Cuộc chiến cuối cùng diễn ra rất ác liệt, đến 4h sáng ngày 7/5, toàn bộ cứ điểm đồi A1 hoàn toàn bị tiêu diệt. Sau chiến dịch Điện Biên, Dũng Hà được phân công áp tải tù binh Pháp từ Điện Biên Phủ về Hải Thôn (Thanh Hóa).
Thực tế cuộc sống và chiến đấu ở Điện Biên đã thôi thúc ông bắt đầu cầm bút viết truyện ngắn Đêm chiến hào, viết về những ngày đêm đánh lấn trên đồi A1. Ký ức về Điện Biên còn đeo đẳng để ông viết tiếp truyện ngắn Theo chồng, nói về bộ đội làm kinh tế ở Điện Biên và sau đó là tiểu thuyết Mảnh đất yêu thương dày 400 trang, và truyện ngắn xuất sắc Cây số 42 về những ngày dẫn giải tù binh Pháp về xuôi.
Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Thiếu tướng - nhà văn Dũng Hà đã cùng đoàn nhà văn tham gia chiến dịch trở lại chiến trường xưa. Bước chân đi trên đồi A1 ông cảm thấy bàn chân run rẩy, vì biết rằng trong lòng đất ấy vẫn còn đồng đội của ông ở đó. Ông bùi ngùi nói: “Nghĩa trang ở Điện Biên cũng chỉ chứa được một phần tử sĩ mà thôi, anh em mình ở dưới chân đồi còn nhiều lắm, mà không biết làm sao được. Mới đây một đơn vị phục chế đường hầm làm bảo tàng, còn tìm thấy mấy bộ hài cốt chiến sĩ vẫn ở trong tư thế ôm súng”. Nhắc đến đây, ông trào nước mắt.
Thiếu tướng - nhà văn Hồ Phương: “Đọc truyện giữa chiến hào ác liệt”
![]() |
|
Nhà văn Hồ Phương. |
Hồ Phương tham gia chiến dịch Điện Biên với tư cách là Chính trị viên Đại đội pháo phòng không, thuộc Đại đoàn chủ lực 308, một đơn vị trực tiếp chiến đấu, mặc dù lúc đó ông đã nổi tiếng với các truyện ngắn Lưỡi mác xung kích và Thư nhà. Đơn vị ông bám sát bộ binh ở mặt trận phía tây cánh đồng Mường Thanh, có nhiệm vụ bắn hạ máy bay Pháp, hỗ trợ cho bộ binh và pháo binh ta đánh chiếm Him Lam và Mường Thanh.
Ngay trong trận quân ta đánh cứ điểm Him Lam, hỏa lực ta xuất hiện pháo 105 ly, đơn vị phòng không của Hồ Phương có nhiệm vụ chặn máy bay địch không cho oanh tạc trận địa pháo, hoặc nhảy dù cướp pháo. Sau khi diệt xong các cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, cả Đại đoàn chuyển mặt trận xuống cánh đồng phía tây.
Đơn vị phòng không của Hồ Phương đi theo Trung đoàn 88 theo hướng cắt sân bay Mường Thanh. Ông nhớ lại, trận đánh sân bay là một sự kiện quan trọng và ác liệt. Chúng ta đào hào mở đường vào sân bay, địch kiên quyết đổ quân đánh san lấp chiến hào. Quân ta có sáng kiến dùng cúi rơm lăn phía trước, đào phía sau, để tránh đạn địch. Ngày 28/3, quân địch mở các mũi phản công nhằm san lấp chiến hào của ta, và ý định tiêu diệt lực lượng phòng không.
Lực lượng địch đụng độ với Đại đội 78 phòng không và Đại đội 241. Trận đánh giáp lá cà đã xảy ra, quân ta ngoài vũ khí, đã dùng cả đồ lề chữa pháo như kìm, búa, cờlê đánh nhau với chúng. Giữa lúc trận chiến ác liệt thì bộ binh của Trung đoàn 88 ra tiếp viện, đánh bật địch khỏi trận địa.
Sau trận đánh, đồng chí Thiềm, Đại đội trưởng, biểu dương anh em đánh giỏi, muốn thưởng cho anh em mà không biết thưởng cái gì; lúc đó anh em đòi phải thưởng ngay và yêu cầu nhạc sĩ Hữu Hiệp, chính trị viên của đại đội hát cho nghe 3 bài hát của anh sáng tác, đó là các bài Quân tiên phong, Ăn trâu, Đường số 4. Anh em cũng đòi Hồ Phương đọc truyện ngắn cho nghe, và Hồ Phương đã đọc theo trí nhớ của mình.
Tiểu đoàn phòng không 387 ngày ấy dù bây giờ không còn phiên hiệu, nhưng các chiến sĩ của Tiểu đoàn (giờ còn 40 người) vẫn lấy ngày 28/3 làm ngày giỗ trận của mình.--PageBreak--
Riêng với đề tài Điện Biên Phủ, Hồ Phương đã viết cả chục cuốn sách. Từ năm 1957 ông đã viết Chuyện Tây ở Điện Biên Phủ và Lá cờ chuẩn đỏ thắm. Ông chắp bút viết Hồi ký của các vị tướng Điện Biên như: Vương Thừa Vũ, Vũ Lăng, Vũ Yên... Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên, ông có Điện Biên ấm sáng và năm 1994 ông viết cuốn Cánh đồng phía tây dày 300 trang. Cuốn sách này được trao giải thưởng của Bộ Quốc phòng. Ông tâm sự, là chiến sĩ Điện Biên, ông sẽ tiếp tục viết về mảnh đất này, bởi trong ông còn vơi đầy bao kỷ niệm của những năm tháng hào hùng ấy.
Thiếu tướng – nhà văn Nguyễn Chu Phác: “Vẫn văng vẳng bên tai, đồng đội gọi tên mình”
![]() |
|
Nhà văn Nguyễn Chu Phác. |
Nguyễn Chu Phác cùng đơn vị từ căn cứ ở Thanh Hóa lên chiến trường Điện Biên năm 1953. Khi ấy ông vừa tròn 20 tuổi, là Trung đội trưởng Trung đội 25, Đại đội 60, Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57, thuộc Đại đoàn 304 (sau chuyển sang Đại đội 59). Nhiệm vụ của trung đội ông lúc đó là xung kích đánh bộc phá, ở địa bàn mắt xích Noọng Nhai, chia cắt không cho địch ở trung tâm Mường Thanh liên hệ với địch ở căn cứ Hồng Cúm.
Cũng như các mũi tiến công khác, các đơn vị tiến công căn cứ Hồng Cúm cũng phải dùng chiến thuật “đào lấn rũi” bí mật, nhiều khi chỉ cách lô cốt địch 9-10m, và luôn phải hứng chịu các loại hỏa lực của địch bắn trả, ngăn không cho quân ta vào đồn của chúng. Do hứng chịu nhiều loại hỏa lực liên tục, có lúc cả đơn vị bị điếc cả tuần liền, muốn truyền lệnh phải viết vào giấy.
Ông cho biết, trong chiến đấu, tình đồng đội còn hơn cả ruột thịt. Mọi người sẵn sàng nhận nguy hiểm về mình. Lính ở đơn vị ông rất trẻ, là đơn vị xung kích nên không thể tránh khỏi hy sinh, có hôm đi mươi người trở về chỉ 2, 3 người, mà người trở về cũng không còn nguyên vẹn. Anh em bị thương thường gọi tên ông là người chỉ huy, có cách nào để giúp đỡ cho họ.
Trường hợp liệt sĩ Hà Ngọc Giá, quê Yên Thành (Nghệ An) cũng vậy. Giá bị pháo đè bị thương rất nặng, cứ gọi “Anh Phác ơi, cứu em với, em chết mất...”. Ông nghe mà chỉ biết động viên, chứ chẳng làm gì được. Vì thế trong nhiều cuốn sách ông viết về những người lính hy sinh, ông không quên chi tiết là những cử chỉ vuốt mắt, nắn ngón tay, ngón chân cho họ, một việc ông vẫn thường làm cho đồng đội mình ở chiến trường Điện Biên.
Cho đến bây giờ, cuộc chiến đã đi qua 50 năm, ông không thể nào quên hình ảnh các chiến sĩ trẻ trung, là những Giá, Chân, Sằn, Nghiệm, Vân, Thoàng, Tùng... Và tiếng họ gọi tên ông cầu cứu đến lạc giọng trước lúc hy sinh vẫn văng vẳng bên tai, và ông tin rằng họ vẫn theo mình.
Từ ý nghĩ đó, ông đã dựng một chiếc am nhỏ trên sân thượng nhà mình để hương khói cho đồng đội, dưới bát hương là tên những đồng đội đã bỏ lại xương máu ở chiến trường Điện Biên... Tập sách Trong chiến hào Điện Biên cùng nhiều trang viết nữa đã thể hiện sâu đậm tình cảm của ông dành cho họ, những chiến sĩ Điện Biên dũng cảm, xả thân vì Tổ quốc thân yêu




