Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng
Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.
Đây là nhận định chung của nhiều nhà quản lý văn hoá, nhà nghiên cứu và đại diện các cộng đồng dân tộc tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hoá dân tộc và tuyên dương các già làng, trưởng bản, người có uy tín tiêu biểu. Hội nghị do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tổ chức tại Làng Văn hoá – Du lịch các dân tộc Việt Nam vào ngày 17/4, trong khuôn khổ sự kiện Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Trịnh Thị Thuỷ nhấn mạnh: Đại hội 14 của Đảng, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam đã tiếp tục xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà là nền tảng vững chắc đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, văn hóa các dân tộc thiểu số là một trong những trụ cột, vừa là bản sắc, tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Bộ VHTTDL, trong 5 năm qua, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực. Văn hóa với du lịch và phát triển kinh tế ngày càng có sự gắn kết chặt chẽ. Trên 30 lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số đã được bảo tồn, phục dựng, góp phần khôi phục không gian văn hóa, nghi lễ và tập quán đặc trưng của cộng đồng. 45 mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch được xây dựng, đưa vào vận hành, bước đầu hình thành các sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng tại địa phương. Hơn 20 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian được thành lập tại các thôn vùng dân tộc thiểu số và khu tái định cư. 30 chương trình nghiên cứu bảo tồn văn hóa phi vật thể, trong đó có 7 chương trình bảo tồn chuyên sâu của các dân tộc ít người, tập trung vào gìn giữ ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán và tri thức dân gian, góp phần hạn chế nguy cơ mai một, thất truyền di sản.
31 nhà văn hóa thôn tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc được hỗ trợ các trang thiết bị. 150 tủ sách cộng đồng được xây dựng tại các xã vùng dân tộc thiểu số. 13 Ngày hội, Liên hoan văn hóa dân tộc cấp khu vực và toàn quốc được tổ chức; nhiều sự kiện thường niên quy mô quốc gia như Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”; Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4); Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam”…
Các địa phương đã quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng và hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức các hoạt động văn hóa, bảo tồn di sản và phát triển du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao thôn, bản được xây dựng mới hoặc cải tạo.
69 điểm đến du lịch tiêu biểu được các địa phương đầu tư, hỗ trợ phát triển. Hình thành 48 làng, bản văn hóa truyền thống gắn với bảo tồn không gian văn hóa cộng đồng và phát triển du lịch, vừa là nơi lưu giữ, thực hành các giá trị văn hóa truyền thống, vừa là điểm đến trải nghiệm văn hóa, góp phần lan tỏa bản sắc dân tộc, từng bước chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Tại hội nghị, các đại biểu thống nhất nhận định, công tác văn hoá dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực nhưng cũng còn một số hạn chế: Cơ chế chính sách chưa đồng bộ; giải ngân chậm; một số mô hình thiếu bền vững; chuyển đổi số còn hạn chế; nguồn nhân lực cơ sở còn yếu.
Về giải pháp, hội nghị xác định, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách là khâu đột phá. Trong đó, triển khai đồng bộ Chương trình hành động của Bộ VHTTDL thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi và phù hợp với thực tiễn.
Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách đột phá về phát triển văn hóa, nhất là Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Xây dựng và hoàn thiện Nghị định về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; ban hành chính sách đặc thù đối với nghệ nhân dân gian, người thực hành di sản; cơ chế hỗ trợ truyền dạy văn hóa, bảo tồn các giá trị có nguy cơ mai một; tăng cường xã hội hóa, huy động các nguồn lực hợp pháp cho phát triển văn hóa.
Hội nghị xác định, thể chế phải đi trước, tháo gỡ điểm nghẽn, dẫn dắt phát triển. Đầu tư phải “có địa chỉ, có sản phẩm, có kết quả đo đếm được”. Mỗi giá trị văn hóa, loại hình văn hóa truyền thống phải trở thành một sản phẩm, mỗi bản sắc phải trở thành một giá trị kinh tế. Cộng đồng là chủ thể, không có cộng đồng, bảo tồn sẽ không bền vững. Chuyển đổi số là yêu cầu bắt buộc để bảo tồn và lan tỏa văn hóa trong thời đại mới. Quản lý phải bảo đảm: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả.
Tại hội nghị, Bộ VHTTDL đã tuyên dương 4 tập thể, 66 cá nhân, trong đó có 2 cán bộ Công an được trao Bằng khen của Bộ VHTTDL vì có nhiều thành tích trong công tác phối hợp cùng đồng bào bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống: Đại úy A Trung, Phòng An ninh dân tộc Cục An ninh nội địa, Bộ Công an; Thượng tá Nguyễn Quốc Khánh, Phòng An ninh Văn hoá, Thể thao và Lao động xã hội, Cục An ninh chính trị nội bộ, Bộ Công an.

Đậm sắc màu văn hóa các dân tộc tại “Chợ phiên vùng cao - Chào năm mới 2026”
Nhiều hoạt động ý nghĩa trong Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam