Tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì chồng có được đồng sở hữu?
Hỏi: Năm 2020, tôi được bố mẹ tặng cho riêng nhà đất. Tôi đã làm thủ tục sang tên tôi và chồng tôi biết việc này. Hiện, tôi đang cho thuê với số tiền 10 triệu/tháng. Chồng tôi cho rằng nhà đất bố mẹ cho trong thời kỳ hôn nhân nên yêu cầu tôi phải thêm tên anh vào sổ đỏ và dùng số tiền cho thuê vào việc chung của gia đình. Xin hỏi chồng tôi yêu cầu như vậy có đúng không? (Mai Trang, phường Yên Hòa, Hà Nội)
Trả lời: Luật sư Nguyễn Thị Hảo - Trưởng Văn phòng Luật sư Hảo Anh cho biết: Trước hết, đối với nhà đất mà bạn được bố mẹ tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì theo khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”.
Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định:“Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Như vậy, theo các quy định nêu trên, nhà đất mà bạn được bố mẹ tặng cho riêng là tài sản riêng của bạn. Chồng bạn không có quyền yêu cầu được đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trừ khi bạn đồng ý thỏa thuận đây là tài sản chung vợ chồng.
Về số tiền có được từ việc cho thuê nhà đất là tài sản riêng của bạn thì pháp luật quy định như sau: Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.
Căn cứ khoản 2 Điều 109 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hoa lợi, lợi tức thì Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản. Như vậy, khoản tiền thu được từ việc bạn cho thuê nhà đất là khoản lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của bạn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì “ Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.
Từ các căn cứ nêu trên, số tiền bạn thu được từ hoạt động cho thuê nhà, đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng.
Theo khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng”. Việc chồng bạn yêu cầu bạn sử dụng số tiền nêu trên vào công việc chung của gia đình là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật.

Ban hành Nghị định xóa bỏ tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình