“80 tuổi mà còn có thể, tôi vẫn đứng trên bục giảng!”

Thứ Năm, 18/07/2013, 16:51

“Thần thái vui vẻ, khỏe khoắn, tác phong nhanh nhẹn, không ai biết người phụ nữ nhỏ nhắn đã ở tuổi sáu mươi kia vừa trải qua cuộc hành trình dài gần ba nghìn km. Cuộc hành trình dài cả đi lẫn về với vạch xuất phát là thành phố Đà Nẵng-Hà Nội-Hoà Bình-Lào Cai rồi lại về Hoà Bình, tiếp tục ngược Sơn La trở về vạch xuất phát... Người phụ nữ mà tôi đang nói đến là một nhà giáo đã có đến ba mươi năm tuổi nghề và vẫn đang tiếp tục cống hiến, tiếp tục mang nhiệt huyết, trí tuệ của mình phục vụ sự nghiệp giáo dục”.

Vừa dạy, vừa học để dạy

Bản thân cá nhân tôi cảm thấy may mắn khi được gặp cô giáo Huỳnh Thị Hạnh, sinh năm 1950 tại Ba Động, Ba Tơ, Quảng Ngãi. Năm 1973, cô tốt nghiệp Đại học Bách khoa Khoa Kinh tế chế tạo máy. Ngay sau khi tốt nghiệp, cô được phân công về Trường Trung cấp Xây dựng số 4 tại Xuân Hoà - Mê Linh - Hà Nội làm việc. Tại đây, cô trực tiếp giảng dạy bộ môn kinh tế xây dựng và quản lý xí nghiệp. Một kĩ sư kinh tế làm công tác giảng dạy, ban đầu là do cơ duyên, rồi gắn bó với nó vì lòng yêu người, yêu nghề thực thụ. Cô Hạnh không chỉ khiến đồng nghiệp quý trọng, học viên yêu mến mà còn để lại những bài học lâu dài trong lòng mọi người.

Năm 1979, do yêu cầu công việc, cô Hạnh lại chuyển sang giảng dạy tại Trường Quản lý kinh tế xây dựng - Bộ Xây dựng, nay thuộc Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Đối tượng giảng dạy lúc bấy giờ là các cấp phó trưởng phòng, giám đốc các công ty xây dựng không chỉ riêng ở miền Bắc.

Được học ngành kinh tế chế tạo máy nhưng cô Hạnh lại được phân công giảng dạy bộ môn kinh tế xây dựng, trái với trình độ chuyên môn. Vị trí công tác tốt, lại ở vào một điều kiện thuận lợi, nhưng cô Hạnh nghĩ, đã là giáo viên phải có trình độ thật, kiến thức thật chứ không thể dựa vào một tấm bằng mà cả đời đứng trên bục giảng, nói về những điều chính bản thân mình còn chưa thực tự tin. Cũng không vì khó khăn mà bỏ dở công việc giảng dạy. Cô Hạnh đề nghị nhà trường để cho mình được đi học thêm về môn kinh tế xây dựng. Nhưng đề nghị này của cô không được chấp nhận.

Thời đại những cán bộ quản lí với trình độ “13 bài” - trải qua lớp bổ túc ngắn hạn với 13 bài giảng là thành kĩ sư, cán bộ ở trong trí nhớ của chúng ta đã dần bị loại trừ. Là một nhà giáo có tâm huyết, có trách nhiệm với học trò, tự thấy năng lực của mình không phù hợp với phân công của nhà trường, cô Hạnh chủ động xin chuyển công tác. Với trình độ và năng lực của mình, cô được chuyển về Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Viện Mác-Lê. Tại đây, cô cùng đồng nghiệp tham gia biên soạn sách kinh tế phục vụ học tập, nghiên cứu.

Nói về chuyện này, cô Hạnh vẫn thường tâm sự: “Là một kĩ sư kinh tế, không tốt nghiệp sư phạm nhưng tôi tự thấy mình vẫn đảm nhiệm tốt vai trò của một người thầy. Có thể sau này, nếu vì lí do nào đó không được giảng dạy, tôi sẽ cảm thấy buồn, thấy thiếu, thấy cuộc sống bớt ý nghĩa. Nhưng càng như vậy, tôi càng không thể nào cho phép mình đứng trên bục giảng với mớ kiến thức “khập khiễng”. Đành rằng lượng kiến thức tịnh tiến và phình ra mỗi ngày theo thời gian.

Người giáo viên muốn dạy tốt, có hiệu quả phải luôn có ý thức tự trau dồi. Nhưng được đào tạo một lĩnh vực là kinh tế chế tạo máy, lại phân công đảm nhận giảng dạy bộ môn kinh tế xây dựng, xin đi học thêm cho thấu đáo lại không được lãnh đạo giải quyết, tôi tự nhận thấy mình không thể đảm nhận tốt vai trò của một người thầy mà xin chuyển công tác. Thời đại nào cũng vậy thôi, giáo viên phải có trình độ, phải hiểu biết thấu đáo về bộ môn của mình mới đủ tư cách đứng trước học sinh”.

Tâm sự của cô Hạnh khiến chúng ta không thể không liên tưởng đến thực trạng giáo dục hiện nay. Hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp đã đành, tình trạng giáo viên đứng nhầm chỗ mới đáng lo ngại. Bạn nghĩ sao khi một giáo viên tiểu học không đọc nổi con số hàng chục triệu  mà đứng trên bục giảng dạy toán? Giáo viên đó liệu có ý thức xin đi học thêm nâng cao trình độ? Thậm chí tự trọng hơn mà nộp đơn xin nghỉ dạy? Thế mới hay giáo dục ở thời nào cũng vậy, luôn rất cần những giáo viên yêu nghề, có đủ trình độ và năng lực giảng dạy.

Về hưu, cô Huỳnh Thị Hạnh vẫn thường xuyên cập nhật thông tin phục vụ bài giảng.

Công tác tại Viện Mác – Lê từ năm 1984 cho đến năm 1988, do điều kiện gia đình (chồng cô lúc bấy giờ là một sĩ quan Quân khu 5), cô Hạnh lại xin chuyển công tác về Nhà xuất bản Đà Nẵng. Làm công việc kế toán cho cơ quan nhưng cô Hạnh chưa bao giờ nguôi nhớ công việc dạy học mà mình đã có thời gian gắn bó.

Cứ học “cô Bảy” là thi đỗ

Năm 1991, cô chuyển về Câu lạc bộ ôtô - môtô Quân khu 5 để được tiếp tục công việc giảng dạy. Tại câu lạc bộ, cô đảm nhận giảng dạy “cấu tạo ôtô”. Linh hoạt, năng động nên không chỉ giảng dạy về cấu tạo ôtô, cô còn đảm nhận công tác hậu cần cho cơ quan. Sau đó do cơ quan thiếu giáo viên giảng dạy bộ môn Luật Giao thông, với trình độ sư phạm tốt lại ham học hỏi, cô Hạnh được phân công dạy bộ môn này thay cho cán bộ giảng dạy đã thuyên chuyển công tác.

Tâm huyết với nghề, muốn được hiểu biết thấu đáo mọi phương diện nên ngay khi được phân công dạy Luật Giao thông, cô Hạnh liền yêu cầu được cho đi học lái xe. Vậy là cô Hạnh trở thành giáo viên dạy luật có bằng lái xe ngay trước cả yêu cầu của Bộ Giao thông vận tải... Cô học lái xe và có bằng năm 1992 trước khi dạy về Luật Giao thông. Mãi tới năm 1995, sau NĐ 36 ra đời mới có yêu cầu giáo viên dạy Luật Giao thông phải có bằng lái.

Cô không nói về chuyện này như một thành tích về sự đi trước, đón đầu. Cô học lái xe trước khi đứng trên bục giảng dạy luật vì để muốn biết tâm lí của người ôm vô lăng như thế nào? Và muốn biết tầm quan trọng thật của việc am hiểu, chấp hành tốt quy tắc giao thông của một người lái xe… Mình không biết tâm lí của người cầm lái làm sao giúp học viên có hứng thú để học luật? Mà luật học để cho họ, học để tự giác chấp hành luật chứ không phải để thi cho qua, cho có bằng lái. Một lái xe am hiểu luật là việc hết sức cần thiết. Luật Giao thông lại dài, làm sao có thể thuộc đây? Vậy là nắm vững luật, hiểu tâm lí của lái xe, cô Hạnh tự tìm cách diễn giải luật sao cho học viên dễ nắm bắt, dễ nhớ nhất.

Năm 1996, trung tâm đào tạo lái xe Quảng Ngãi được thành lập, cô đảm nhận công việc giảng dạy bộ môn Luật Giao thông từ đó cho đến nay

Bộ môn Luật Giao thông là mối lo lắng của tất cả các học viên. Học viên nào cũng lo ngại như thế và rồi cũng truyền bảo với nhau: Yên tâm, cứ nghe “cô Bảy” - tên thân mật của cô Hạnh - giảng bài là nhớ, thi là qua hết. Đó cũng chính là mục tiêu mà cô đặt ra trước khi bước vào lớp giảng Luật Giao thông. Với cô thì lời khen ấy của học viên là một phần thưởng quý báu. Có những học viên ra trường đã nhiều năm, mỗi khi gặp lại học viên cùng khoá đều nhắc tên “cô Bảy” với tấm lòng biết ơn chân thành.

Trường hợp của anh Nguyễn Văn Lanh là một trong số rất nhiều ví dụ như thế. Khi vào trung tâm học lái xe, anh Lanh mới chỉ học hết lớp 8, anh lo ngại lắm. Thực hành lái xe còn có thể cố gắng (vì lái xe đã là quá đơn giản với một “con nhà nòi” như anh.) nhưng học thuộc hàng trăm điều luật thì cố gắng cách nào đây? Sẵn “cô Bảy” là chỗ quen biết, anh có ý muốn hỏi “cô xem có cách nào thi qua môn luật mà không cần phải học không?”. Nhưng anh thi đạt môn Luật Giao thông không cần qua lo lót mà do người giáo viên yêu nghề ấy đã giúp anh nắm vững luật không mấy khó khăn. Hơn thế, cũng nhờ nhớ, hiểu, học, thi qua được môn luật khô khan, khó nhớ mà anh phát hiện ra rằng mình cũng có thể học hỏi, tiếp thu và anh có thêm ý thức phấn đấu trong công việc. Từ một lái xe bình thường, hiện anh đã là trưởng phòng kinh doanh một công ty trách nhiệm hữu hạn tại khu công nghiệp Dung Quất.

Nhờ yêu nghề, tận tụy với công việc mà cô Hạnh đã thành công trong công việc. Năm 2003, cô đã vinh dự nhận giải thưởng Nguyễn Văn Trỗi dành cho giáo viên dạy nghề tiêu biểu trên toàn quốc tại Quảng Ninh. Còn nhớ tại lần trao giải ấy, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Người Lao động về cảm nhận của mình về giải thưởng, cô đã rất thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ, trăn trở của mình: “Mô hình đào tạo giáo dục đáng là phải được định hướng phát triển theo hình tháp, nghĩa là đội ngũ thợ lành nghề phải chiếm tỉ trọng lớn. Nhưng đằng này thì ở nước ta lại khác, tâm lý muốn thoát nghèo thì phải cố cho có bằng được tấm bằng đại học khiến cho ở đất nước chúng ta, đội ngũ kĩ sư, cử nhân lấn lướt thợ lành nghề. Mà đáng buồn là đội ngũ kĩ sư, cử nhân ấy lại không đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng. Nên chăng các trường đào tạo nghề phải được ưu tiên phát triển, mà phát triển không có nghĩa là tự do, ồ ạt. Giáo viên nghề phải được tuyển chọn kĩ lưỡng, cũng cần được khuyến khích, coi trọng nhiều hơn, tâm lý xã hội về nghề nghiệp cũng cần được thay đổi”.

Gắn bó và tâm huyết với nghề nên năm 2005, cô Hạnh bị bệnh u thanh quản và phải trải qua tới 9 lần phẫu thuật. Mặc dù sau những lần phẫu thuật, cô không nói được, lại đã nghỉ chế độ hưu nhưng cô vẫn kiên nhẫn điều trị. Tháng 5/2006, cô lại tiếp tục bị viêm tai xương trục biến chứng, liệt dây thần kinh số 7. Bệnh tật và tuổi tác không ngăn cản được bước chân tâm huyết của cô đến với bục giảng. Nhu cầu của trung tâm dạy nghề Quảng Ngãi vẫn thiếu giáo viên luật có trình độ, có tâm huyết nên đầu năm 2008, ngay sau khi điều trị có hiệu quả, cô lại tiếp tục nhận dạy hợp đồng. Dù đã về hưu và chỉ là dạy hợp đồng, cô Hạnh vẫn không từ bỏ việc cập nhật thông tin hàng ngày qua các phương tiện điện tử để bài giảng của mình luôn không bị lạc hậu, luôn theo kịp thời đại và luôn mới.

Chuyến ra Bắc lần này một phần vì công việc gia đình, một phần vì cô cũng muốn được xem thực tế một số cung đường và cách thức đi những cung đường ấy. Không ai biết người phụ nữ nhỏ nhắn ấy cách đây không lâu vừa trải qua 9 lần phẫu thuật và những biến chứng về dây thần kinh cùng việc tự điều trị, vượt qua căn bệnh tụt calcium đường huyết. Vẫn rất khỏe khoắn, nhanh nhẹn sau một chuyến đi dài, cô Hạnh nói: “Thấy không, tôi còn khỏe lắm và nếu 80 tuổi mà còn có thể, tôi vẫn còn đứng trên bục giảng!”

Vũ Nguyên
.
.
.