Quyền bào chữa của công dân

Thứ Hai, 04/08/2014, 09:47
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2014. Kế thừa các bản Hiến pháp trước (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992), Hiến pháp 2013 quy định rõ hơn về quyền bào chữa, về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Theo đó, quyền bào chữa - một quyền lợi đặc thù, quyền cơ bản của công dân, của những bị can, bị cáo được coi là một nguyên tắc hiến định, ghi nhận tại các Điều 31, Điều 103 Hiến pháp 2103. Điều này chứng tỏ bản chất tốt đẹp và dân chủ của pháp luật Việt Nam, bởi lẽ tất cả những người bị bắt, bị tạm giữ, bị điều tra, truy tố và xét xử đều có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Quyền bào chữa của công dân trong Hiến pháp 2013 được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, Hiến pháp 2013 đã mở rộng hơn quyền được sử dụng sự trợ giúp pháp lý của công dân

Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Như vậy, theo quy định này thì không chỉ bị cáo mới có quyền bào chữa như các bản Hiến pháp cũ quy định, mà ngay từ khi một người bị bắt, đã phát sinh quyền tự bào chữa, hoặc nhờ luật sư bào chữa đối với họ, được đảm bảo bởi đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Đây là một nguyên tắc hiến định nhằm bảo đảm cho người bị buộc tội có quyền được tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Quyền bào chữa, được bào chữa cho phép người bị buộc tội có chỗ dựa về pháp lý, tinh thần, kiến thức, niềm tin để công khai đứng ra bảo vệ mình, chống lại sự cáo buộc có tội của bên buộc tội. Người bị buộc tội có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa kể từ khi bị tạm giữ, bị khởi tố về hình sự, tức là từ khi có quyết định khởi tố bị can, trở thành bị can trong vụ án hình sự đến khi bị đưa ra xét xử, trở thành bị cáo. Đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo bị buộc vào tội phạm có mức hình phạt cao nhất là tử hình hoặc là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc phải có người bào chữa cho họ, cả trong trường hợp họ không thuê người bào chữa. Trường hợp này, trách nhiệm cử người bào chữa thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, việc áp dụng nguyên tắc này bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đòi hỏi của các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật trong việc buộc tội đối với bị can, bị cáo, đồng thời phải có căn cứ vững chắc và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo được thực thi trong thực tiễn

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được quy định trong Hiến pháp 2013 không chỉ có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình, mà còn bao gồm cả quyền tự bào chữa cho bản thân. Nghĩa là, một người ngay từ khi bị bắt, họ đã có quyền đưa ra những căn cứ, lý lẽ, những tình tiết có lợi để tự bào chữa cho họ, chứng minh họ không có tội hoặc khai báo những tình tiết giảm nhẹ. Nhằm bảo đảm nguyên tắc này được thực thi trên thực tế, Hiến pháp năm 2013 cũng đã lần đầu tiên đưa nguyên tắc tranh tụng vào hoạt động xét xử. Tại khoản 5, Điều 103 Hiến pháp quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”. Có thể nói, đây là một nguyên tắc quan trọng bởi chỉ có thực hiện tốt việc tranh tụng và đảm bảo cho hoạt động tranh tụng được công khai, bình đẳng thì mới giúp cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, đúng thời hạn luật định, tránh trường hợp vụ án bị trả hồ sơ điều tra lại hoặc bị hủy để xét xử lại, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng và đảm bảo cho nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo được thực thi trên thực tế. Mặt khác, cần phải nhận thức đúng nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của Hiến pháp không chỉ là nhờ người bào chữa mà trước hết là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa cho mình. Tự bào chữa ở đây có thể là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo tự nhận tội hoặc đưa ra các căn cứ khẳng định họ không phạm tội, phạm tội nhưng mức độ nhẹ hơn hoặc phạm ở một tội khác…; hay nói cách khác, phải xác định và thực hiện nghiêm túc yêu cầu mới Hiến pháp đặt ra đó là đảm bảo quyền bào chữa của công dân ngay từ khi họ bị bắt, bị tạm giữ (chưa xuất hiện tư cách bị can).

Thứ  ba, Nhà nước có trách nhiệm ban hành, hoàn thiện các cơ chế bảo đảm thực thi quyền bào chữa của công dân

Trong thực tế, hiện nay quyền bào chữa của công dân đang được pháp luật bảo đảm thông qua hai cách là: bị can, bị cáo, đương sự tự bỏ tiền ra mời luật sư bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích cho mình; hoặc Nhà nước thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng mời và bỏ tiền ra thanh toán chi phí cho luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người bị truy tố có khung hình phạt cao nhất đến mức tử hình hoặc bị can, bị cáo là người có nhược điểm về thể chất, tinh thần. Hoặc Nhà nước thông qua các hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí để thanh toán tiền cho luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ trong một số nhóm đối tượng nhất định.

Tuy nhiên trên thực tế, một tình hình chung là các cơ quan tố tụng, đặc biệt là các chủ thể tiến hành tố tụng ở giai đoạn điều tra thường có tâm lý “ngại” sự xuất hiện của người bào chữa, nhất là luật sư. Mặt khác, bản thân người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo cũng chưa nhận thức được đầy đủ quyền bào chữa mà pháp luật đã qui định cho họ. Trong khi đó một số người bào chữa thuộc trường hợp chỉ định theo có tâm lý bào chữa qua loa cho xong, chưa thực sự đầu tư thời gian, công sức và chuyên môn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa. Vì những nguyên nhân trên dẫn đến việc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình thực thi nhiều khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu mà Hiến pháp đặt ra.

Việc tăng cường trách nhiệm hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng cũng như tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đòi hỏi trách nhiệm rất lớn của toàn bộ hệ thống chính trị, của Đảng và Nhà nước ta trong việc ban hành, hoàn thiện các cơ chế bảo đảm thực thi quyền bào chữa của công dân, đảm bảo thực thi quyền bào chữa trên của công dân trong suốt quá trình tố tụng của vụ án nhằm tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ và văn minh

N.T.H.
.
.
.