Nước mắt, vinh quang và nỗi đau của mẹ
Để có ngày hòa bình, thống nhất, gần 2 triệu người con ưu tú đã ngã xuống. Và cũng ngần ấy những bà mẹ khóc con, những người vợ khóc chồng, người thân khóc người thân... Vinh quang và nỗi đau của những bà mẹ Việt
Đi bất cứ nơi đâu, đến bất cứ nơi nào, từ địa đầu Móng Cái đến mũi Cà Mau, tôi cũng có thể gặp nỗi đau của những bà mẹ... Mẹ Vũ Thị Xuân ở Yên Bái có người con trai độc nhất vĩnh viễn nằm lại ở miền
Đến thành phố Đà Nẵng, tôi lặng người trước tượng đài bà mẹ dang cánh tay, lấy thân mình che chở cho những người con trước mũi súng quân thù. Đó là bà mẹ Nhu nơi căn cứ lõm cửa biển, tần tảo nuôi con lên đến đại học, đưa con mình đến với cách mạng. Mẹ đào hầm cho các biệt động thành đánh giặc. Mẹ chắt chiu từng con cá, con tôm đổi lương thực nuôi chiến sĩ dưới hầm. Mẹ còn đi điều tra, thu thập tin tức, làm giao liên cho biệt động. Được chỉ điểm, địch kéo đến vây ráp bắt trói mẹ Nhu. Bị đánh đập rất tàn nhẫn nhưng mẹ kiên quyết không chỉ hầm bí mật. Từ dưới hầm, các chiến sĩ biệt động nghe rất rõ lời cuối cùng của mẹ: “Hầm ở trong tim tao”. Mẹ Nhu hy sinh trong tư thế hai tay vòng trước ngực như đang ôm hai đứa con vào lòng.
Nếu như ở Quảng Nam có Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (VNAH) Nguyễn Thị Thứ là mẹ của 9 con ruột, 1 con rể và 1 cháu ngoại là liệt sĩ thì ở Củ Chi, bà mẹ Nguyễn Thị Rành vừa là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) vừa là Bà mẹ VNAH có 8 người con trai, 2 cháu anh dũng hy sinh. Má từng là cơ sở nuôi giấu cán bộ, từng xung phong đào địa đạo Củ Chi, sát vai cùng con cháu đánh giặc. Đó là một bà mẹ ngoan cường khi bị địch bắt làm con tin để ép con cháu mẹ ra hàng và ly khai cách mạng, vẫn tìm cách khuyên con cháu vững vàng. Tấm thân gầy yếu của mẹ bao lần hứng chịu những trận đòn dã man của kẻ thù nhưng trước sau, mẹ vẫn một lòng trung kiên với cách mạng. Người mẹ ấy - một bà mẹ quê chân chất với câu nói có giá trị như chân lý thoát ra từ lồng ngực: “Chồng con tao là ở trong tim tao đây, chúng bay cứ mổ ra mà kiếm!”. Đó là mẹ Trần Thị Kế, ở cồn Ốc, xã Thạnh Phong, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Là con gái út một gia đình khá giả, lấy chồng là một cán bộ kháng chiến thời chống Pháp, bản thân má là đảng viên. Sau Hiệp định Genève, chính quyền Diệm tập trung đánh phá phong trào cách mạng ở Bến Tre rất khốc liệt. Ngày 17/4/1969, bọn địch bao vây nhà má Kế, lùng sục khắp nơi vẫn không tìm ra hầm bí mật, bèn đánh đập, bắt má phải chỉ hầm. Trước trận mưa đòn xối xả lên thân hình gầy yếu, má Kế lấy hết sức mình, gượng ngồi dậy, đưa tay chỉ vào ngực mình nói lên lời gan ruột ấy. Địch chở má về Ty Công an tỉnh Bến Tre, tiếp tục khai thác nhưng mọi thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt; mọi phương tiện, dụng cụ tra tấn tối tân đều thất bại trước má. Đến ngày thứ 3, sau khi bị bắt, má Kế trút hơi thở cuối cùng.
Ở xã anh hùng Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh có má Ba đã kiên trì đào hầm nuôi du kích xã. Khi địch đem mìn đến gần cửa hầm để giật, bất chấp hiểm nguy, má kêu lên: “Các con hãy xông lên diệt giặc!”. Hai chiến sĩ bung lên ném lựu đạn diệt 2 tên giặc, các anh thoát được ra ngoài nhưng má anh dũng hy sinh. Địch đốt nhà khiến con gái má là Lê Thị Trừ cùng 2 du kích hy sinh trong hầm. Tinh thần chiến đấu, dũng cảm hy sinh của má Ba Thưa và chị Trừ để lại niềm thương tiếc vô hạn trong lòng dân quân Gia Lộc.
Cuộc chiến tranh tàn khốc đã đẩy biết bao bà mẹ vào tình huống nghiệt ngã thật khó xử. Có những bà mẹ đã đứng chết lặng, nước mắt chảy vào trong, chấp nhận sự hy sinh của các con để bảo đảm an toàn cho cả đoàn quân. Sự hy sinh của những bà mẹ ấy thật vô cùng đau đớn nhưng cũng vô cùng cao cả. Có biết bao trẻ thơ trở thành liệt sĩ dù tên tuổi các em bé ấy không bao giờ nằm trong danh sách.
Đất Nam Bộ thành đồng có nhiều bà mẹ vừa là Anh hùng LLVTND vừa là Bà mẹ VNAH như các mẹ Nguyễn Thị Điểm (Thanh Tùng) ở Tp.HCM, Nguyễn Thị Ba, Cao Thị Mai ở Long An, Huỳnh Thị Tân ở Sóc Trăng, Trần Quang Mẫn ở Rạch Giá, Phạm Thị Ngư - một bà mẹ ở Bình Thuận có 8 người con (5 trai, 3 gái) tham gia bộ đội và du kích, trong đó 7 người con là liệt sĩ, Đỗ Thị Phúc (má Gấm) ở Kiên Giang, Bùi Thị Thêm ở Gò Quao (Kiên Giang), Đoàn Thị Nghiệp ở Cai Lậy, Tiền Giang.--PageBreak--
Trong số 7 bà mẹ nói trên, thật tiêu biểu tấm gương chiến đấu dũng cảm, gan dạ của mẹ Đoàn Thị Nghiệp. Đó là một tỉnh đội phó có những thành tích lẫy lừng trong chiến đấu, một anh hùng LLVTND, một người chỉ huy luôn đi đầu trong những cuộc tấn công. Trong một trận chiến đấu ở bót Cẩm Sơn, 4 chiến sĩ của ta hy sinh. Dưới tầm lửa đạn, mẹ kiên trì cắt một tiểu đội men theo dòng kênh, nhẹ nhàng trườn xuống lặn tìm thi hài đồng đội, rồi bò theo dòng kênh đến một chiếc xuồng nghi trang, đưa được 4 thi hài về nơi an toàn.--PageBreak--
Có những Bà mẹ VNAH đã anh dũng hy sinh. Đó là mẹ Phan Thị Thạnh (Chín Liềm), hy sinh trong tư thế che chở đàn con cháu trong trận địch thảm sát 41 gia đình ở Tân Hòa, Tân Thạnh, Kiến Tường mà ngày nay, nơi diễn ra trận thảm sát năm xưa được gọi là đồng 41. Riêng gia đình mẹ Liềm có 11 người bị giết, chỉ còn sống sót người con gái Du Thị Đông lúc đó mới lên 9 tuổi...
Có nơi nào trên thế giới trong một gia đình có 3 thế hệ nối tiếp nhau là Bà mẹ VNAH. Đó là mẹ Nguyễn Thị Toàn ở Đức Hòa, Long An là thân mẫu của hai ủy viên Trung ương Đảng: Võ Văn Tần, Võ Văn Ngân... Bà có 9 người con, trong đó 4 con là liệt sĩ. Bà Lê Thị Mẹo, dâu mẹ Toàn, vợ liệt sĩ Võ Văn Tây sinh ra Võ Thị Thung. Võ Thị Thung tham gia kháng chiến chống Pháp, hy sinh, để lại người con trai duy nhất là Phạm Công Khanh. Nối tiếp ý chí của mẹ, Công Khanh tham gia đánh Mỹ, hy sinh. Khi nhảy xuống giếng bảo toàn khí tiết, mẹ Võ Thị Thung đâu nghĩ có một ngày mình được truy tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH.
Mẹ Trương Thuận Huê ở Tp.HCM là người Hoa có 3 con là liệt sĩ. Mẹ Kalin, dân tộc Châu Mạ ở xã Đinh Trung Thượng, có 3 con trai lần lượt nằm xuống trên mảnh đất Tây Nguyên. Đặc biệt, bà mẹ Mưk 106 tuổi, người Ba Na đến từ tỉnh Gia Lai có một con độc nhất hy sinh đã cảm động rơi nước mắt khi lần đầu rời khỏi buôn làng xuống phố, được đặt chân đến dinh Thống Nhất, được Anh hùng lao động Nguyễn Vĩnh Nghiệp hứa tặng máy trợ thính để nghe được tiếng cười nói của bà con buôn làng. Ước nguyện giản dị của mẹ làm bao người rơi nước mắt...
Thật đáng trân trọng một xứ sở truyền thống, đầy nhân văn, nơi có những bà mẹ đánh giặc bằng cả câu hò, điệu hát. Các mẹ, các chị xã Mỹ Hạnh (Đức Hòa, Long An) đều ngậm ngùi trước sự ra đi vĩnh viễn của “Cô Vải Ngoe”. Cuộc đời cô Vải Ngoe hết sức đặc biệt. Là con gái của thầy Phương - một nhà sư tu tại gia, Ngoe cũng sớm nương nhờ cửa Phật. Nhưng nhan sắc lộng lẫy của cô làm nhiều người chú ý. Lấy cớ thầy Phương giúp nghĩa quân trong Khởi nghĩa Nam Kỳ, cai tổng Nhung cho đốt chùa, bắt cô Vải Ngoe về làm vợ. Sau Cách mạng Tháng Tám, cai tổng Nhung bị ta bắt tạm giam... Nhờ vậy, cô Vải Ngoe cũng được giải phóng. Cô ôm con trở về ngôi chùa cũ, sống cuộc đời tần tảo, bình dị của một góa phụ nuôi con. Anh Cẩm - con trai cô Vải Ngoe lớn lên, học giỏi, đẹp trai, ngoan hiền. Bà con xã Mỹ Hạnh nói về mẹ con cô Vải Ngoe: “Cây đắng mà sinh trái ngọt”. Ngôi nhà cô Vải Ngoe là cơ sở bí mật nuôi giấu cán bộ. Anh con trai sống yên bình, sung túc với mẹ bằng nghề dạy học, rồi giác ngộ cách mạng, thoát ly. Và anh đã hy sinh. Có một con trai độc nhất hy sinh, cô Vải Ngoe được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH. Riêng bà con xã Mỹ Hạnh tôn cô Vải Ngoe là “nữ hoàng hò mép”. Đó cũng là người mẹ làm nòng cốt trong những cuộc đấu tranh chính trị, bị địch đàn áp vẫn sáng tác những câu hò vè động viên tinh thần chị em. Làng Mỹ Hạnh nhờ có những câu hò của mẹ mà chị em thấy thêm lên tinh thần, càng hăng hái đấu tranh...
Có trái tim nào bao dung, nhân hậu và dũng cảm như bà mẹ Bùi Thị Tư, một bà mẹ đã tự tay khâm liệm và chôn cất nhiều người. Nhà má ở Phước Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trên bản đồ quân sự của Mỹ, đây là vùng “oanh kích tự do”, hứng pháo địch bất cứ lúc nào. Nhà má là cái lán lợp lá nửa nổi nửa chìm trên một con mương để tránh bom pháo địch. Má nhất quyết ở lại để làm nơi che chở, tiếp tế cho bộ đội, du kích, thương binh. Tấm lòng của má đối với người sống tràn ngập yêu thương, đối với người chết thật vô cùng cảm động. Chỉ trong khoảng 10 năm cuối của cuộc chiến tranh ác liệt (từ năm 1965 đến 1975), má đã tham gia khâm liệm, chôn cất hơn 100 liệt sĩ. Má thường bảo người chết, khi chôn cất phải được sạch sẽ thì sang bên kia linh hồn mới được siêu thoát. Đặc biệt với những thi thể không được mai táng kịp thời, nhiều người ngại, riêng má Tư vẫn thản nhiên góp phần lo tẩm liệm, chôn cất chu đáo. Có người bảo: “Má quen mùi nên mới dạn tay như vậy”. Má cười, nhẹ nhàng trách: “Tầm bậy, ai mà quen với mùi của xác chết. Có điều mình coi mấy đứa bộ đội như con ruột của mình. Nó làm xong nghĩa vụ với nước non, đến lượt mình phải xử sự cho đúng cái nghĩa ở đời chớ!”. Chồng và ba người con trai của má hy sinh. Má tin rằng ở một nơi nào đó, người thân của má cũng được chôn cất tử tế như những anh bộ đội mà má đã chôn trong lòng đất mẹ.
Từ Quảng Trị trở vào, có 153 phụ nữ được phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Điều đó như là một điều hiển nhiên, Tổ quốc Việt
Dù nơi thủ đô, thành phố phồn hoa hay xóm làng xa xôi, heo hút; dù chỉ một con độc nhất hay nhiều người con hy sinh; nước mắt khóc con của những bà mẹ liệt sĩ đều sâu thẳm và trĩu nặng. Thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi còn mắc nợ những giọt nước mắt ấy
