Máu chảy về tim
Chiến tranh chống Mỹ cứu nước thắng lợi đã lùi xa ba mươi năm, thế hệ sinh ra sau năm 1975 sẽ thật không dễ nếu muốn hình dung lại một thời đất nước bị chia cắt, một thời bom rơi đạn nổ, một thời chiến đấu và hy sinh của thế hệ cha anh để miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất. Có thể khép lại quá khứ, nhưng không ai và không bao giờ được quyền quên quá khứ
Lẽ thường sau mỗi cuộc chiến rất dễ xảy ra cảnh huynh đệ tương tàn. Bây giờ nhìn thấy các cuộc chiến tranh vừa xảy ra ở Nam Tư cũ, ở Iraq, ở Afghanistan… người ít am hiểu chính trị cũng thấy rõ quy luật nghiệt ngã đau khổ đó. May thay, sau kết thúc chiến tranh (tháng 4/1975), ở Việt
Không còn nghi ngờ gì nữa, tư tưởng nhân văn nằm ở tầng sâu thẳm của truyền thống nhân nghĩa dân tộc, thấm vào lối ứng xử của từng người, mà người kế thừa một cách sâu sắc và nâng lên tầm cao là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế rồi, không ai ngạc nhiên khi cựu Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ là ông Dương Văn Minh sau ngày 30/4/1975 được tự do chọn nơi cư trú ở nước ngoài, hàng loạt binh lính của chính quyền cũ được học tập, giáo dục, cải tạo để hội nhập với cuộc sống thời hậu chiến, và tất cả họ sau khi trở về đã yên bề làm ăn, sinh sống, xây dựng cuộc sống mới, góp phần kiến thiết đất nước.
Rồi thời gian trôi đi, tới những năm 90 của thế kỷ trước, người trong nước cũng thấy bình thản khi nghe tin cựu Tổng thống Dương Văn Minh từ Pháp quay về thăm quê hương, rồi cựu Thiếu tướng, Cục trưởng An ninh Quân đội Sài Gòn cũ Đỗ Mậu cũng về thăm quê khi tuổi của hai ông đã bước về già. Đó suy cho cùng là câu chuyện xưa nay của lối ứng xử thuần Việt “lá rụng về cội”, bởi sau ít lâu hai ông đã mất. Nhưng còn có điều đáng tiếc, thế kỷ XXI đã bước qua vạch xuất phát mấy năm mà đâu đó trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn còn những tiếng nói lạc điệu phản đối chuyến về thăm quê Sơn Tây của ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó tổng thống Chính quyền Sài Gòn cũ vào dịp Tết Giáp Thân 2004. Nào là những cái tên hữu danh vô thực như “Tổng hội không lực Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Thịnh Đốn”, nào là “Tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hải ngoại”, rồi “Cựu sinh viên sĩ quan trù bị Thủ Đức” vân vân và vân vân… Nhưng sự hiện diện của ông Nguyễn Cao Kỳ trên dòng suối Yến tại Chùa Hương sáng mồng 6 Tết Giáp Thân đã nói lên tất cả.
Ở cái tuổi gần đất xa trời, ông đã dám gạt đi mọi lời ong tiếng ve để trở về nguồn cội, trở về bái lạy Phật tổ Chùa Hương, nơi mà 74 năm trước đó, ông bà Nguyễn Văn Hiếu đã từ Sơn Tây về đây cầu tự để sinh ra cậu bé Nguyễn Cao Kỳ. 74 năm hay bao nhiêu năm ông Kỳ mới được đi đò trên dòng suối mà bố mẹ ông từng đi cầu tự? Ông lẫn vào dòng người nối nhau tưởng như vô tận, hân hoan đi trẩy hội. Dòng nước nguồn trong trẻo của đất Mẹ đã gột rửa tất cả những gì mà con người có thể lầm lạc một thời để họ bình tâm trở về từ cửa Phật. Không ai nhận ra ông Nguyễn Cao Kỳ, “ông tướng râu kẽm” xưa của chế độ Sài Gòn, giờ đang ngồi thư thái trên con đò do một thiếu nữ áo đỏ thôn Yến Vĩ đang tất bật tay chèo… Người thôn nữ làm công việc thường nhật cũng không biết những người trên đò kia là ai. Trước đó, ngày 27/1/2004, tức mồng 5 Tết, trong buổi ông cùng vợ và con gái được ông Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tại Hà Nội, ông Nguyễn Cao Kỳ đã nói ra điều mà nhiều người tin là thật lòng: “Sau khi tận mắt chứng kiến những đổi thay của quê hương, tôi tự thấy mình có bổn phận phải nói lại, không chỉ cho kiều bào, mà cả thế giới biết rõ hơn về đất nước Việt Nam đổi mới. Tôi hy vọng sẽ còn trở về thăm quê hương nhiều lần”.
Nói là làm, tháng 11/2004, ông Kỳ trở về quê hương lần thứ 2, bất chấp những phản đối của những kẻ “đồng ngũ” xa lạ một thời để đến đảo Tuần Châu tìm cơ hội đầu tư: “Tôi đã đi khắp thế giới, tới những khu du lịch nổi tiếng, nhưng tôi thấy Tuần Châu không những không thua kém gì mà có phần vượt trội hơn. Ngoài việc giới thiệu nơi này với các doanh nhân để hợp tác phát triển, tôi sẽ đưa các bằng hữu về đây”. Nghe nói ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ tìm cơ hội, nguồn vốn để có thể đầu tư 1,5 tỉ USD kích Tuần Châu có những bước phát triển nhảy vọt.
Cứ sau mỗi lần về quê hương, đối diện với những con người cụ thể đã gặp, đối diện với tâm thức của đời sống cộng đồng, những người Việt Nam như ông Dương Văn Minh, ông Nguyễn Cao Kỳ hay ông Đỗ Mậu, nhạc sĩ Phạm Duy nữa… đều thấy hồn mình như trong trẻo hơn, thôi thúc họ làm một điều gì có ích cho dân tộc mình khi sức lực còn chưa cạn kiệt…
Khi tư tưởng Phật giáo hướng về dân tộc
Đầu năm 2005, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có mặt tại Việt Nam, ở chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội để có thể thanh thản bước những bước an nhàn trên các con đường của làng quê Việt Nam trong cái se lạnh đầu mùa đáng nhớ, sau gần 40 năm xa cách. Cũng là lẽ thường thôi. Sự trở về quê hương của Thiền sư chẳng những nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà của cả hàng ngàn phật tử người nước ngoài từng thụ giáo theo thuyết giáo của ông. Thậm chí đâu đó, còn có những kẻ “thọc gậy bánh xe”, bịa đặt rằng có ai đó trong nước đã “tranh thủ” uy tín của Thiền sư. Xa quê, về thăm quê hương, điều đó sao mà thiêng liêng và giản dị trong nếp sống ngàn đời của người Việt. Những ai từng nghe kệ Bông hồng cài áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được soạn từ năm 1962 mới hiểu được phần nào tình cảm trong ông khi thể hiện sự quyết tâm trở về quê.--PageBreak--
Thiền sư viết rằng: “Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: Tai nạn lớn nhất đã xảy ra cho tôi rồi! Lớn lên đến cách mấy, mất mẹ thì cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi”… ở một đoạn khác, Thiền sư viết rằng: “ Đáng lẽ chị tôi không nên đi lấy chồng, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: “Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cơm cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ở một nhà khác”. Chị tôi gục đầu xuống mâm cơm, khóc. Chị nói: “Con không đi lấy chồng nữa”. Nhưng rốt cuộc thì chị vẫn đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ đi tu”…
Chẳng riêng gì Thiền sư, bất cứ người con đất Việt nào cũng mang trong mình kỷ niệm trong trẻo thiêng liêng ấy về mẹ. Hình bóng mẹ còn đâu đây, lời ru của mẹ còn quanh đâu đây bên ruộng lúa, bờ tre, giữa cánh đồng thăm thẳm nhập nhòa tối, bóng mẹ hao gầy chở một lối nghèo về nhường nhịn cho con… Người bình thường nhất còn trở về quê mẹ, huống chi là một học giả như Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
“Đạo lý vẫn không có quê hương, mà nhà học giả phải có một cái quê hương”; đó là câu nói của nhà y học nổi tiếng người Pháp Pasteur được nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng dẫn lại và bình luận trên báo Tiếng Dân ngày 17/4/1939, rằng: “Ôi! Thuyền kia không lái, thả ra giữa biển không biết nơi nào là bờ, người đi không nhà, chạy vào trong rừng mà không rõ ngõ nào ra đường cái”. Ngẫm lại thật chí lý với các bậc Thiền sư.
Ít người biết Thiền sư Thất Nhất Hạnh sinh năm 1922 tại Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế; năm 1942 ông vào tu ở chùa Bảo Quốc (Huế) cùng theo học trung học ở đây. Năm 1956, ông vào Sài Gòn theo học Đại học Văn khoa rồi sang Mỹ học về tôn giáo. Những năm chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, các nhà sư và hệ thống tổ chức Phật giáo bị tổn thất, nội bộ bị chia rẽ phức tạp. Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Thích Nhất Hạnh được Thượng tọa Thích Trí Quang mời về nước giúp ông trong việc thống nhất các phe phái để tìm một hướng đi cho Phật giáo miền Nam. Do những hoạt động tích cực này, đầu năm 1966, Đại đức Thích Nhất Hạnh lại được Thượng tọa Thích Trí Quang phái ra nước ngoài kêu gọi chấm dứt chiến tranh, đòi hòa giải, hòa hợp dân tộc. Cuối tháng 5/1966, khi đang ở Pháp, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được tổ chức “Chương trình hòa giải” và Đại học Cornell ở New York mời sang Mỹ. Có thể tưởng tượng được không, trong hoàn cảnh “thân cô thế cô”, nhưng Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã dám một mình tuyên cáo 5 điểm của Phật giáo Việt Nam, trong đó có yêu cầu “Quân đội Mỹ rút lui khỏi Việt Nam và ngừng oanh tạc miền Bắc”.
Vậy là từ năm 1966 đến nay, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở nước ngoài, lập ra một thiền viện gọi là Làng Hồng, nay là Làng Mai ở Mayrac Laubes Bermac, phía Nam nước Pháp. Ngoài thiền viện này, Thích Nhất Hạnh và sư cô Chân Không còn quản lý 3 chùa thờ Phật trên đất Pháp; ngoài ra tại Mỹ, Thiền sư còn có 3 cơ sở truyền đạo là Đạo tràng Thanh Sơn ở Haurtland - Faur Comers, bang Vermont; Tu viện Rừng Phong ở South Woodstock, bang Vermont và Viện Lộc Uyển ở địa chỉ 2499 Melru Lane, Escondido, bang California… Ông đã có hàng triệu phật tử, trong đó có rất nhiều học trò là các thanh niên nước ngoài vốn tiếp xúc khá sớm với khoa học và văn minh…
Cũng ít người biết, giáo sư Sử học, giáo sư Văn chương, Thiền sư Thích Nhất Hạnh có mối quan hệ thân thiết với Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng, Trung Quốc, nhưng cả 4 lần Thiền sư được Nhà nước Trung Hoa mời vào thuyết giảng đạo Phật, tình bạn giữa hai ông vẫn không mảy may suy suyển mặc những đồn đại ác ý.
Nếu ai đó tìm hiểu sâu một chút về những thăng trầm của Phật giáo miền Nam những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sẽ không bao giờ nghi ngờ về tinh thần dân tộc của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Và có lẽ cũng không ai nghi ngờ khi gọi Thiền sư là một trong những học giả tiêu biểu thời hiện đại của nhà Phật.
Việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh về Việt Nam sau gần 40 năm, phải chăng là tìm lại cội nguồn của tư tưởng triết học Phật giáo phương Đông và trong ông tìm về cội nguồn dân tộc dù ông đã tới tuổi bát tuần? Có một nhà văn Việt
