Học sinh dốt văn, lỗi tại ai?

Thứ Hai, 11/09/2006, 10:00
Sau khi công bố kết quả thi môn văn trong kỳ thi tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng, dư luận đang đặt ra vấn đề cần xem lại thực chất công tác dạy môn học này (và các môn xã hội nói chung) trong trường phổ thông (TPT).

Đúng là chất lượng, hiệu quả của việc dạy môn văn trong TPT hiện nay đang có một bước tuột dốc đáng buồn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên mà báo chí đã phân tích, ở đây chúng tôi muốn nói đến yếu tố con người và những vấn đề liên quan đến việc nâng cao chất lượng tốt đội ngũ giáo viên ngữ văn (GVNV) trong TPT.

Thực trạng chất lượng đội ngũ GVNV trong TPT

Đội ngũ GVNV trong TPT hiện nay vẫn có nhiều người giỏi, say mê nghề nghiệp, luôn trăn trở về các vấn đề chuyên môn, miệt mài tìm tòi, sáng tạo, trong quá trình giảng dạy có hiểu biết tinh tế, có sức hấp dẫn đối với học sinh. Họ vừa là nhà sư phạm mẫu mực, vừa là nhà khoa học cần mẫn nghiêm túc. Tuy nhiên, bên cạnh đó có một bộ phận không nhỏ GVNV trong TPT năng lực chuyên môn bình thường, thậm chí yếu kém và thiếu lòng say mê nghề nghiệp, không chịu khó trau dồi kiến thức và khả năng sư phạm.

Thực tế giảng dạy có những chuyện “cười ra nước mắt”: Giáo viên dạy sai kiến thức cơ bản, không thuộc giáo án, một bài thơ ngắn đã dạy đi dạy lại hàng chục lần vẫn không thuộc nên lên lớp vẫn kè kè sách giáo khoa để vừa đọc vừa giảng giải. Giáo viên không giải nghĩa được những từ Hán - Việt thông thường, không biết cách phân tích một tác phẩm văn học, không biết cả cách ra một đề văn đúng, viết một câu lên bảng thì sai cả ngữ pháp lẫn chính tả, lên lớp vẫn trung thành với phương pháp “đọc chép”.

Buồn hơn là có những giáo viên “câu giờ” bằng cách cho học sinh đọc đi đọc lại bài văn hoặc bằng cách hỏi bài cũ liên tục (sau khi đã làm công tác chủ nhiệm, “công tác tư tưởng” mất 15-20 phút)... Rồi cả đến cách chấm bài, cho điểm cũng rất lạ kỳ: hầu như học sinh nào cũng đạt điểm trung bình trở lên theo kiểu “hòa cả làng”, ai “ngoan”, “biết điều”, có “quan hệ” thì điểm cao hơn. Có nhiều giáo viên hầu như không chấm bài mà cho điểm theo kiểu “đoán”, nên xảy ra tình trạng học sinh đã bỏ học nhưng trong sổ điểm của giáo viên vẫn đầy đủ các điểm.

Bộ phận GVNV ở TPT nhận thức về chính trị, xã hội, văn hóa, văn học nghệ thuật còn thấp, nhất là những giáo viên vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nhưng lại ít chịu đọc sách báo để nâng cao trình độ.

Đã đến lúc cần gióng lên một hồi chuông cảnh báo tình trạng xuống cấp về chất lượng chuyên môn của đội ngũ GVNV trong các TPT. Đây thực sự là một nguy cơ không nhỏ đối với việc dạy môn văn mà còn đối với nền giáo dục nước nhà. Thầy không giỏi, làm sao có được trò giỏi.

Điều đáng nói nữa là tình trạng suy thoái về đạo đức, thiếu gương mẫu trong lối sống, tác phong của một bộ phận GVNV. Xã hội ta đã đặt ra những yêu cầu  rất cao về đạo đức, tư cách đối với những người được gọi là “thầy”. Người xưa có câu: “Đạo cao đức trọng” để chỉ những nhà giáo đức độ, tài năng; trong quan niệm của nhân dân cũng luôn đề cao “đức” so với “tài” (“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”).

Đối với những GVNV, yêu cầu đó lại có tính chất đặc thù bởi vì “văn là người”, dạy văn là dạy cái hay, cái đẹp, dạy cách làm người khiến cho học sinh trở nên nhân ái, cao thượng hơn, đúng như tên gọi của bộ môn là “khoa học xã hội và nhân văn”. Chúng tôi không muốn nhắc lại những điều không hay trong đạo đức, lối sống của đồng nghiệp mà chỉ muốn nói: thật khó có thể thuyết phục ai đó tuân theo nguyên tắc đạo đức, ứng xử khi bản thân mình còn chưa gương mẫu thực hiện.--PageBreak--

Đâu là nguyên nhân?

Trước hết về đội ngũ giáo viên. Người GVNV sau khi đã được biên chế và có trình độ đạt chuẩn là “yên tâm công tác”: cứ giảng dạy theo đúng lớp, bài, đúng chương trình, sách giáo khoa là tự cho mình đã đạt yêu cầu. Họ gần như chỉ cần soạn giáo án một lần (thực chất là “chế biến lại” sách giáo viên - bởi vì chẳng có cái gọi là “giáo án mẫu”) sau đó cứ việc chép lại. Đó là nguyên cớ của tình trạng GVNV bị cùn mòn về kiến thức, bị “công chức hóa” dẫn đến tình trạng chất lượng giảng dạy không cao.

Tiếp đó là ở không ít địa phương, nhiều giáo viên muốn học hỏi, nghiên cứu thêm cũng gặp không ít khó khăn, bởi sự đầu tư của nhà trường vào công tác thư viện còn rất hạn chế. Nhiều trường, thư viện rất nhỏ, thậm chí không có cả phòng đọc và rất ít sách báo, tài liệu tham khảo. GVNV muốn tìm đọc các tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới, những công trình phê bình nghiên cứu văn học của các học giả lớn, những tác phẩm văn học hiện đại trong nước và thế giới cũng... không có để đọc.

Ngay cả các báo, tạp chí chuyên ngành như: Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Văn học nước ngoài, Ngôn ngữ và đời sống... cũng không có nốt. Thậm chí có GVNV không hề biết đến sự tồn tại của một số tạp chí văn hóa nổi tiếng, những tác phẩm văn học đang xôn xao dư luận. Tiếp cận với mạng Internet, sách báo điện tử... còn là chuyện xa vời với đông đảo GVNV.

Bộ GD-ĐT có quy định các trường hằng năm phải đầu tư ít nhất 35% tổng kinh phí chi thường xuyên cho việc mua sắm trang thiết bị, sách vở, tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy nhưng chẳng có ai kiểm tra, không có chế tài xử phạt nên hầu như chẳng mấy vị hiệu trưởng mặn mà thực hiện. Chi phí cho mục “nước nôi”, liên hoan, tiếp khách, lễ lạt... vài ba triệu (thậm chí hàng chục triệu đồng) là “chuyện vặt” nhưng nếu bỏ ra ngần ấy tiền để mua sách thì “tiếc đứt ruột”!

Hầu hết GVNV có thu nhập thấp, may ra đủ chi tiêu cho các nhu cầu bình thường của cuộc sống, làm sao có thể có đủ tiền để mua sách báo, tài liệu tham khảo. Hậu quả là nhiều giáo viên ngày càng tụt hậu, hoàn toàn cách biệt với đời sống văn học, văn hóa đang diễn ra sôi động hàng ngày.

Một nguyên nhân nữa là khó khăn về mặt thời gian. Vào năm học, giáo viên bị cuốn vào vòng xoáy công việc “trăm thứ bà rằn”: họp hành liên miên, hướng dẫn học sinh lao động, tập văn nghệ, soạn bài, chấm bài, tham gia các cuộc “thi tìm hiểu”, chuẩn bị khảo sát, ôn thi học kỳ, ôn thi tốt nghiệp, rồi coi thi, chấm thi tốt nghiệp... và biết bao công việc “không tên” khác. Đến hè thì cũng phải họp hành, tập huấn, tham gia lao động...

Mặt khác, sự tác động trở lại của động cơ, ý thức, thái độ học tập của học sinh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phấn đấu, cố gắng của người GVNV. Một bộ phận học sinh thờ ơ, “quay lưng” lại với môn văn, kết quả học tập kém cỏi nhưng lại có thái độ buông xuôi, mặc kệ, “đến đâu thì đến”... cũng ít nhiều tác động tới tâm tư của người thầy.

Bên cạnh đó, chính sách tiền lương, chế độ khuyến khích GVNV học thêm cũng có phần hạn chế. Nhiều người còn phải bươn chải làm thêm những việc ngoài chuyên môn để cải thiện thu nhập, vì vậy càng không có thời gian tích lũy kiến thức, học thêm và đọc thêm.

Một vài suy nghĩ

Công tác dạy học văn trong TPT đang có một “sức ỳ” rất lớn, trước hết là từ phía người GVNV. Sự xuống cấp của môn văn và các môn khoa học xã hội trong TPT có môn liên quan chặt chẽ với tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống của thanh thiếu niên trong nhà trường và ngoài xã hội, với sự mai một các giá trị đạo lý truyền thống. Đó là một nguy cơ không nhỏ đối với toàn xã hội trong tương lai, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ mà bước khởi đầu từ các giảng đường ĐHSP.

Đảng và Nhà nước ta hiện nay rất quan tâm đến sự chấn hưng giáo dục (thể hiện ở những chính sách về văn hóa, giáo dục). Nước ta có truyền thống văn hiến nghìn năm; dân tộc ta có truyền thống tôn trọng, yêu thích văn chương, có nhiều nhân tài về văn hóa, văn học, có nhiều danh nhân là những người văn võ toàn tài và hiện tại ngọn lửa truyền thống ấy vẫn cháy trong tâm can bao người. Cần phải có các giải pháp phù hợp để “đánh thức” tiềm năng, biến tiềm năng thành hiện thực

Quang Hiển
.
.
.