Từ GATT đến WTO những chuyển biến của nền thương mại toàn cầu

Thứ Tư, 06/12/2006, 08:00

Cách đây gần 60 năm, năm 1947, một tổ chức thương mại lớn của thế giới được thành lập trên cơ sở Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gọi tắt là GATT). Đến năm 1995, GATT được thay thế bằng WTO - Tổ chức Thương mại thế giới. Đó là một bước tiến dài của nền thương mại toàn cầu.

Lúc đầu chỉ có 16 thành viên như Anh, Mỹ, Pháp, Canada, Brazil... Sau đó, số lượng các thành viên GATT tăng dần lên, đến năm 1994 thì GATT có 128 thành viên.  Nhưng các nước thành viên của tổ chức này nhận thấy khuôn khổ hoạt động của GATT đã quá chật chội và cản trở buôn bán trong một thế giới luôn luôn vận động, biến đổi.

Sau Vòng đàm phán Uruguay kéo dài 8 năm, đến năm 1995, GATT được thay thế bằng WTO - Tổ chức Thương mại thế giới. Đó là một bước tiến dài của nền thương mại toàn cầu. Đến nay, WTO có 150 thành viên chính thức, 29 quan sát viên chiếm khoảng 90% dân số thế giới, 95% GDP và 95% giá trị thương mại toàn cầu. WTO là tổ chức quốc tế lớn thứ hai thế giới sau Liên Hiệp Quốc. WTO có trụ sở tại Geneva (Thụy Sĩ) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995.

Tổ chức Thương mại thế giới được xây dựng trên 4 nguyên tắc pháp lý nền tảng là tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng. WTO hoạt động dựa trên Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay các nguyên tắc pháp lý được các nước thành viên ký ngày 15/4/1999 tại Marrakesh. Đây là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế. Về dung lượng, các hiệp định được ký tại Marrakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy định về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các nước thành viên.

WTO hướng tới  thực hiện những mục tiêu nâng cao mức sống của nhân dân các thành viên, đảm bảo việc làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới.

WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên, là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO...

Cơ cấu tổ chức của WTO gồm 3 cấp: Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định (bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại); các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương; Cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký là Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO.

Khác với GATT 1947, WTO có một ban thư ký rất quy mô, bao gồm khoảng 500 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO. Đứng đầu Ban thư ký WTO là Tổng giám đốc WTO. Tổng giám đốc WTO do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm. Ngoài vai trò điều hành, Tổng giám đốc của WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống thương mại đa phương. Chính vì vậy mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua ác liệt giữa các nhân vật chính trị quan trọng, cấp Bộ trưởng, Phó thủ tướng hoặc Tổng thống.

Tuy là một tổ chức quốc tế liên chính phủ nhưng thành viên của WTO không chỉ có các quốc gia có chủ quyền mà có cả những lãnh thổ riêng biệt, ví dụ như EU, Hồng Công, Macao. Có 2 loại thành viên theo quy định của Hiệp định về WTO: thành viên sáng lập và thành viên gia nhập. Thành viên sáng lập là những nước mà một bên ký kết GATT 1947 và phải ký, phê chuẩn Hiệp định về WTO trước ngày 31/12/1994 (có 128 thành viên sáng lập của WTO). Thành viên gia nhập là các nước hoặc lãnh thổ gia nhập Hiệp định WTO sau ngày 1/1/1995. Ngân sách hoạt động của WTO do tất cả các nước thành viên đóng góp trên cơ sở tương ứng với phần của mỗi nước trong thương mại quốc tế.

Về nguyên tắc, các quyết định lớn và quan trọng nhất của WTO do chính phủ tất cả các nước thành viên thông qua, hoặc ở cấp Bộ trưởng tại Hội nghị Bộ trưởng hoặc ở cấp Đại sứ tại Đại hội đồng WTO. Tất cả các quyết định này thông thường được thông qua trên cơ sở đồng thuận. Những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT đã được WTO kế thừa và phát triển. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp.

Tuy nhiên, không phải tất cả mọi quy định của WTO được triệt để tuân thủ. Lợi dụng sự không rõ ràng của một số quy định, một số nước thành viên phát triển vẫn tiếp tục đơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong Luật Thương mại Mỹ hoặc Quy định 384/96 của Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạt các nước thành viên WTO khác khi lợi ích của họ bị đe dọa. Vì vậy, các nước đang phát triển đang đấu tranh mạnh mẽ để thực hiện nguyên tắc công bằng của WTO. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc Vòng đàm phán Doha chưa thể kết thúc vào năm 2005 như dự kiến

Thanh Đàm
.
.
.