“Tội phạm tri thức”

Thứ Bảy, 26/02/2005, 07:48
Birnie Ebbers, Dennis Kozlowski và các cựu ông chủ khác của các công ty lớn ở Mỹ đã và đang đối mặt với  khả năng đứng trước vành móng ngựa về tội danh gian lận kế toán. Và nếu bị xử, họ sẽ phải chịu mức án tù nặng hơn sau Chương trình hành động Sarbanes - Oxley 2002.

Ngày 18/1/2003, vụ xét xử Dennis Kozlowski, cựu Chủ tịch Công ty Tyco mở ra ở Manhattan. Ông bị buộc tội biển thủ 600 triệu USD từ ngân khố của tập đoàn. Chính  Giám đốc Tài chính Mark Swartz đã thông đồng giúp đỡ Kozlowski trong vụ này. Cùng ngày, Bernie Ebbers, nguyên Chủ tịch WorldCom cũng phải ra hầu tòa. Ebbers bị kết án làm giả, thông đồng và gian lận kế toán làm cho hãng điện thoại đường dài lớn nhất Mỹ này rơi vào phá sản với số nợ 11 tỉ USD.

Một tuần sau, Richard Scrushy, nguyên Giám đốc HealthSouth buộc phải  ngồi ghế bị cáo ở Alabama do liên quan đến gian lận kế toán 2,6 tỉ USD cho công ty chăm sóc sức khỏe mà ông thành lập. Và ngày 23/2/2003, John Rigas và con trai cũng đối mặt với tội danh tham ô 100 triệu USD và che giấu khoản nợ 2,3 tỉ USD ở Công ty Truyền hình cáp Adelphia Communication do gia đình Rigas thành lập. Trong khi đó thì một con trai khác của Rigas cũng đang đợi hầu tòa.

Trong số các ông chủ hầu tòa lần thứ 2, Giám đốc Tài chính của Công ty Enron Andrew Fastow thú nhận đã gian lận, đóng vai trò làm phá sản Tập đoàn Thương mại năng lượng khổng lồ Texan và đồng ý giúp đỡ các công tố viên điều tra về những người đứng đầu, trong đó có cả Kenneth Lay và Jeffrey Skilling (hai người này có thể sẽ phải hầu tòa trong năm nay). Mặc dù được hưởng khoan hồng giảm án do hợp tác, nhưng Fastow vẫn phải lãnh án 10 năm tù giam.

Andrew Fastow.

Một trường hợp khác là Giám đốc Công ty Rite - Aid Marttin Grass, cũng phải chịu 8 năm với tội danh gian lận. Và nguyên cố vấn giám đốc của Công ty Franklin Brown cũng vừa chịu án 10 năm tù vào tháng 10/2004. Trong khi đó, Jamie Olis, Giám đốc của Dynegy, công ty con của Tập đoàn Thương mại năng lượng Texan đã chịu mức án 24 năm tù do gian lận 300 triệu USD.

Theo các nhà phê bình, chính sự ồn ào của dư luận về sự phá sản của Enron và các bê bối khác đã khiến cho Quốc hội có phản ứng mạnh mẽ. Theo họ, việc các chính trị gia ra quyết định và kết án quá nặng nhằm trấn an dư luận hơn là thực thi đúng công lý. Bản giới thiệu năm 2002 cho Chương trình hành động Sarbanes - Oxley đưa ra cùng các ý kiến tranh cãi về những nguyên tắc  kết án. Ủy ban Phán quyết của Mỹ đã nâng bản án cho những trường hợp gian lận nghiêm trọng lên ít nhất 25% và còn có thể hơn.

Những bản án dành cho bị cáo “tội phạm trí thức” của Mỹ trong những năm 80 của thế kỷ trước cho thấy người có hành vi sai trái gây ra hậu quả thiệt hại lớn vẫn "được" nhận bản án rất khiêm tốn. Ví dụ như Micheal Milken, ông vua chủ nợ, chỉ phải chịu mức án 22 tháng tù giam và nộp phạt 200 triệu USD. Tương tự, Ivan Boesky đồng phạm lãnh 3 năm rưỡi tù, nộp phạt 100 triệu USD.

Vậy thì bản án như thế nào là thích đáng dành cho loại “tội phạm trí thức” nguy hiểm  này? Một vài tháng thì quá ít, trong khi mấy chục năm lại có vẻ quá nặng, mặc dù nếu như thế thì những cổ đông mất tài sản hay những nhân viên mất việc có thể bất bình.

Rõ ràng, Mỹ nặng tay với loại tội phạm này hơn so với các nước khác. Nước Anh thông thường chỉ phạt tù cho hành vi gian lận kế toán 4 năm, và không quá 10 năm. Đức cũng thực thi mức phạt tương tự.

Mặc dù mức án đã được nâng lên, người ta vẫn không hình dung được mức án nào là thích đáng cho những tên “tội  phạm tri thức” này. Mức án 24 năm của Olis có thể so sánh với mức án của một tên sát nhân hay một tên cướp có vũ khí. Nhưng xu hướng của Mỹ là trừng phạt nặng đối với nhiều loại tội phạm, không chỉ riêng tội phạm gian lận kế toán.  Cho đến nay, số người ngồi tù đã tăng gấp 4 lần so với cách đây 30 năm, trung bình 700 tù nhân/100.000 dân, gấp 5 lần so với nước Anh

Hải Anh (theo The Economist Global Agenda)
.
.
.