Tác động kinh tế từ tranh chấp lãnh hải tại Đông và Nam Á

Thứ Năm, 16/08/2012, 09:25

Những căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải có nguy cơ bùng phát thành xung đột quân sự bất cứ lúc nào tại khu vực Đông và Nam Á đang làm tổn thương tới nền kinh tế thế giới do tắc nghẽn lưu thông hàng hóa và trong khu vực thì đe dọa chôn vùi dự án thành lập khu thương mại tự do giữa ba nước Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc.

Biển Đông đang trở thành vùng biển "nóng" nhất thế giới do những cuộc tranh chấp chủ quyền giữa các nước trong khu vực và sự điều chỉnh chính sách quân sự của các cường quốc trên thế giới. Theo đánh giá của giới quan sát quốc tế, nguy cơ xung đột tại vùng biển này là rất cao trong thời gian tới. Nếu chiến tranh diễn ra, chỉ xét về kinh tế, các nước trong khu vực và toàn thế giới sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào?

Hiện nay hơn 50% lượng hàng hóa thế giới đi qua biển Đông. Do vậy một cuộc xung đột mở trước tiên sẽ làm xáo trộn mạnh việc cung cấp dầu lửa của các nước Đông Nam Á, Đông Á, cũng như hoạt động mậu dịch trung gian và tiêu dùng giữa các nước ven biển Đông và giữa châu Á với châu Âu.

Hơn 67% các côngtennơ hàng liên quan đến Pháp đi qua biển Đông. Tác động từ một cuộc xung đột mở trên biển Đông và tình hình bất ổn kéo dài sẽ cản trở các tàu hàng đến Pháp. Các tàu hàng chủ yếu xuất phát từ các cảng biển của Trung Quốc và sẽ không có tuyến hàng hải thay thế làm hài lòng bằng tuyến đi qua biển Đông. Xung đột xảy ra sẽ dẫn đến phải ngưng toàn bộ các chuyến tàu chở côngtennơ xuất phát từ Trung Quốc cũng như số lượng các côngtennơ xử lý tại các cảng của Pháp trong giai đoạn này. Sau khi xung đột chấm dứt, các dịch vụ hàng hải được nối lại song vẫn còn bị rối loạn từng phần làm cho hoạt động vận tải đến thị trường Pháp trở nên thất thường.

Hơn 50% lượng hàng hóa thế giới đi qua Biển Đông, nếu xung đột xảy ra tại đây sẽ tác động lớn tới kinh tế thế giới.

Khủng hoảng ở biển Đông còn đưa đến hậu quả thiếu nguồn cung sẽ làm cho nhiều ngành công nghiệp (xe hơi, tin học…) bị rối loạn; một phần nhân công thất nghiệp tạm thời; các dịch vụ thương mại thiếu hàng; giá cả hàng hóa tăng cao. Việc đa dạng hóa nguồn cung sẽ mất một thời gian và trở nên bấp bênh, nhất là đối với các mặt hàng tiêu dùng. Đối với Pháp, mọi tranh chấp đều phải dựa vào luật pháp quốc tế. Pháp bày tỏ ủng hộ Bộ luật ứng xử do ASEAN đề xuất. Hơn nữa, trong mối quan tâm giảm thiểu căng thẳng, Pháp đã đề xuất tổ chức hội thảo gồm Liên minh châu Âu và ASEAN dưới dạng các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý các khu vực hàng hải chung.

Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng, một cuộc xung đột như trên sẽ không kéo dài nhiều tuần vì ưu thế quân sự của Trung Quốc cũng như sự phụ thuộc của nước này đối với giao thông hàng hải, nhu cầu cần thiết phải thiết lập lại nhanh chóng các tuyến đường biển cung cấp nguyên liệu (than, quặng sắt và ngũ cốc) và xuất khẩu sản phẩm. Một khi an ninh trên các tuyến hàng hải bị đe dọa, giao thông có thể bị xáo trộn dữ dội do các vụ va chạm của các nước ven biển.

Đó là tình hình tại biển Đông, còn tại vùng biển Nhật Bản, Hàn Quốc ra thông báo tiến hành tập trận quân sự vào ngày 13/8 này tại vùng biển gần quần đảo Dokdo (tên tiếng Nhật - Takeshima). Đây sẽ là động thái của Seoul đáp lại sự ra mắt Sách Trắng quốc phòng tuần trước tại Tokyo, trong đó Nhật Bản tuyên bố các đảo Takeshima là lãnh thổ của mình.

Tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư cũng thể hiện sự leo thang. Vào tuần trước, tàu đánh cá Trung Quốc lại đi vào khu vực các đảo Senkaku do Nhật Bản kiểm soát. Thủ tướng Yoshihiko Noda tuyên bố, Nhật Bản sẽ không ngại sử dụng hải quân để bảo vệ biển đảo.

Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy bầu không khí quanh các hải đảo tranh chấp đang nóng lên nhanh chóng. Cho đến gần đây, vấn đề kỳ vọng lãnh thổ không hề cản trở Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc phát triển các mối quan hệ kinh tế. Nhưng vào thời điểm hiện tại, tình hình đã có phần khác trước: một số chuyên gia nghiên cứu nhắc đến khả năng thực tế của xung đột vũ trang.

Những tranh chấp lãnh hải và lãnh thổ có nguy cơ chôn vùi các cuộc đối thoại khu vực mậu dịch tự do giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trong năm nay.

"Nhiệt lượng tranh chấp tăng cao có mọi khả năng tác động tiêu cực đến quan hệ kinh tế giữa ba quốc gia" - Andrei Ivanov,  chuyên viên nghiên cứu hàng đầu của Học viện Ngoại giao thuộc MGIMO Bộ Ngoại giao Nga nhận định. "Vấn đề chủ quyền hải đảo lúc này giống như quả bom nổ chậm. Quả bom ấy là thành quả chế tác của người Mỹ tại Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951. Mỹ điều chỉnh lại tấm bản đồ châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh thế giới thứ II bằng cách trao trả những lãnh thổ mà đế quốc Nhật bị tước đoạt vì tội ác xâm lược, nhưng động cơ của Washington không hề do những công bằng lịch sử, mà dựa trên các tính toán địa chính trị. Mỹ đã tạo nguyên cớ cho những tranh chấp lãnh thổ không ngừng, đầu độc quan hệ giữa các nước trong khu vực.

Tranh chấp gay go Dokdo/Takeshima giữa Hàn Quốc với Nhật Bản và Senkaku/Điếu Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc, lúc này là tiềm năng cản trở sự hình thành khu thương mại tự do ba bên và hợp tác kinh tế nói chung" - ông Ivanov cho biết thêm.

Dự án thành lập một khu vực tự do thương mại chung của Tokyo, Seoul và Bắc Kinh tại Đông Á là điều không hề phù hợp với chiến lược của Mỹ, quốc gia vốn có chủ đích thúc đẩy dự án Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương. Mỹ không mời Trung Quốc tham gia, bởi Washington coi Bắc Kinh là một địch thủ cạnh tranh chính yếu. Hòng làm suy yếu ảnh hưởng của Bắc Kinh, trong tất cả tranh chấp lãnh thổ tại khu vực, Mỹ ủng hộ mạnh mẽ các đối thủ của Trung Quốc. Phương tiện truyền thông ở Mỹ không ngừng nhắc đến mối đe dọa Trung Quốc ngày càng tăng. Đây là những chiến thuật hiệu quả.

Lâu nay, các chính trị gia ở Bắc Kinh, Tokyo và Seoul đã trở thành con tin của những tham vọng cá nhân và chính kiến xã hội. Các quốc gia bị cuốn vào vòng xoáy tranh chấp lãnh thổ, thay phiên nhau gay gắt hùng biện, làm cho cơ hội tìm giải pháp thỏa hiệp ngày càng trở nên mỏng manh. Dự án liên minh kinh tế ba bên của Tokyo, Seoul và Bắc Kinh đang đứng trước nguy cơ sụp đổ rất lớn.

Theo đánh giá của các chuyên gia, trong tương lai gần, không mấy khả năng các chính khách sẽ kìm nén tham vọng để chấp thuận hoãn cuộc tranh cãi về chủ quyền hải đảo. Việc hợp tác sử dụng kinh tế các vùng lãnh thổ tranh chấp ở châu Á, hứa hẹn trở thành lối thoát cùng có lợi trong các vấn đề bế tắc, vẫn còn là viễn cảnh xa vời

M.T. (tổng hợp)
.
.
.