Phú quý giật lùi
Câu ngạn ngữ quen thuộc mà từ xửa từ xưa cha ông ta vẫn dùng và truyền lại, đó là "Phú quý sinh lễ nghĩa". Thời đại chúng ta, nó đang rất thịnh hành và có trường hợp thái quá đến lố bịch, tiếng để đời!
Ngoài sự tồn tại của câu ngạn ngữ trên, thời nay, từ thực tế cuộc sống, nó được "cải biên" để trở thành trạng thái khác, đó là "Phú quý… giật lùi". Nghe có vẻ là lạ!
Đã phú quý, có nghĩa là giàu sang phú quý, cớ sao lại giật lùi? Thế mới nên chuyện. Nghe, tưởng như vô lý, song lại là chí lý, giật lùi là lùi lại, gần hơn trước, thấp hơn trước, hẳn nhiên đồng nghĩa với xuống cấp. Nhìn đâu cũng thấy. Sự thật… nhãn tiền: Đạo đức, xuống cấp; Văn hóa, xuống cấp; Nghĩa tình, xuống cấp; Giáo dục, xuống cấp; Niềm tin, xuống cấp…
Có những thứ giật lùi, xuống cấp đến lạ lùng, thê thảm, xót xa! Báo chí dư luận xã hội từ lâu đã báo động. Bức xúc quá, đã đôi ba lần kẻ viết bài này định góp thêm tiếng nói, nhưng rồi lại thôi. Thôi mãi cho tới bây giờ. Ngẫm lại bỗng ngộ ra rằng, ngay đấu tranh tự phê bình và phê bình thể hiện tính chiến đấu của người lính năm nào trong con người mình cũng đã xuống cấp. Nguyên nhân: ngại, nói ra phỏng có tác dụng gì? Mình nói, ai nghe? "biết rồi… khổ lắm, nói mãi"!
Nhân những ngày tận cùng của năm 2011, bỗng lóe lên một tia hy vọng, ấy là việc các cơ quan truyền thông đại chúng nước nhà đồng loạt đăng bài, đưa tin về Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, đặc biệt là nội dung bài phát biểu phiên khai mạc và bế mạc Hội nghị của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Tập trung vào 3 vấn đề xây dựng Đảng cần làm ngay, trong đó nhấn mạnh nội dung tự phê bình và phê bình. Cái sức mạnh mang ý nghĩa sống còn của một đảng cầm quyền là ở đây. Cố nhiên, vẫn phải chờ, phải đợi, phải tin tưởng mà chờ đợi và hy vọng. Dẫu sao, đó cũng là những tín hiệu đáng mừng. Bởi thế, nỗi niềm xưa vụt trở lại, thế là cầm bút.
Xô bồ bao chuyện giật lùi, xuống cấp, bài viết này chỉ xin đề cập tới một vài chi tiết trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo thời gian gần đây.
Xin không nhắc lại những vấn đề mà báo chí đã nêu như: Nạn bạo hành trong học đường; hiện tượng thiếu trường lớp, thiếu giáo viên (đặc biệt là giáo viên mẫu giáo, mầm non); chất lượng học sinh qua các kỳ thi, nhiều trường hợp yếu kém đến kỳ lạ… chỉ xin đề cập tới một vấn đề, đó là sự lãng phí trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
Có một tâm lý thiếu công bằng, đó là ở xứ ta lâu nay bất kể trên lĩnh vực nào người ta chỉ tập trung phê phán những hiện tượng tham ô, tham nhũng, tiêu cực, coi nhẹ hiện tượng lãng phí, mà thực ra có không ít vụ lãng phí mà hậu quả của nó vô cùng nghiêm trọng.
Xin đơn cử xung quanh vấn đề xây dựng các trường đại học và cao đẳng trên phạm vi toàn quốc với cái mốc thời gian 2 thập niên gần đây: Năm 1990, cả nước có 102 trường đại học và cao đẳng. Tập trung nhiều ở 3 trung tâm lớn: Hà Nội, TP HCM và Thái Nguyên. Năm 1994, nâng số lượng lên 107 trường (66 trường đại học và 41 cao đẳng, 4 năm thêm 5 trường). Vậy mà, chỉ 17 năm sau, tốc độ phát triển phi mã đến chóng mặt. Tính tới năm 2011 trường đại học và cao đẳng đã lên tới con số 437 (kể cả công lập và dân lập). Mười bảy năm, phát triển thêm 330 trường. Trung bình mỗi năm thêm gần 20 trường.
Đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cố nhiên phải quan tâm tới công tác đào tạo. Song, đào tạo phải tính toán hết sức khoa học, đáp ứng cung và cầu, đâu có thể tràn lan, tùy hứng, để đến nỗi trường thừa ế, không chiêu sinh nổi, phải vơ bèo vạt tép như hạ điểm chuẩn tới mức không thể hạ hơn được nữa. Năm 2011, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, điểm chuẩn khối A và D là 13 điểm, khối B và C là 14 điểm, chia bình quân cho 3 môn thi, cả 4 khối đều dưới điểm trung bình. Vậy mà vẫn đĩnh đạc là sinh viên đại học.
Để xây dựng một trường đại học hoặc cao đẳng, tốn kém nhiều lắm. Trước hết là đất đai. Phải là "bờ xôi ruộng mật" thuận tiện giao thông, sinh hoạt, chứ đâu có thể đưa tới đồng hoang, đồi trọc mà xây dựng. Thứ đến là cơ sở vật chất, rồi tới đội ngũ giáo viên…
Chạy đua tuyển sinh nên không ít trường, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng, vẫn cứ chiêu sinh, nên dẫn tới tình trạng trường mượn, giáo viên thuê, thật cám cảnh!
Xin nêu một trường hợp điển hình của năm 2011: Trường đại học Phan Chu Trinh ở Quảng Nam. Tuyển được có 7 sinh viên. 7 sinh viên của một khóa học thì làm sao mở lớp. Thôi đành… phải gửi sang trường khác. Nhìn cơ ngơi sự nghiệp giáo dục của nước nhà mà sốt ruột. Ấy là chưa kể rồi đây sinh viên tốt nghiệp, cái "đầu ra" sẽ tính sao? Biết bao gia đình ki cóp cho con vào đại học trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề, làm thuê, gánh mướn, mong cho con vào đại học (bất kể là trường gì). Không ít trường hợp phải bán trâu, bán bò, xắn cả đất vườn ra mà bán, để rồi khi con ra trường không biết chạy vạy về đâu.
Từ tình hình trên, kẻ viết bài này trộm nghĩ, rất cần thiết các cơ quan, ban ngành chức năng nên tính toán lại quy hoạch và mô hình đào tạo.
Ta đang mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, yêu cầu bức thiết là người lao động Việt Nam cần có một chút vốn ngoại ngữ tối thiểu của nước sở tại. Việc này đã có làm. Song hình như cũng chỉ là hình thức. Việc tổ chức thi tiếng Hàn Quốc cho hàng ngàn người vừa qua đã cho thấy điều đó.
Yêu cầu trong nước và cả lực lượng xuất khẩu lao động rất cần tới công nhân kỹ thuật. Cớ sao lại không tập trung cho công tác đào tạo tay nghề cho họ. Còn nhớ, những năm miền Bắc mới giải phóng, những người có trình độ tốt nghiệp cấp III để vào đại học hiếm lắm. Phần lớn tốt nghiệp cấp II là đệ đơn thi vào các trường chuyên nghiệp; 2 hoặc 3 năm ra trường là "đắt như tôm tươi". Đi làm là có lương ngay. Chứ đâu như bây giờ, đại học nhan nhản mà việc làm thì ất ơ. Cầm tấm bằng tốt nghiệp đại học trong tay, đi xin việc, "chạy xin việc" vào được đâu đó, dẫu trái ngành, trái nghề thì cũng là "hạnh phúc vô song". Cả nhà mừng như trúng xổ số độc đắc!
Đôi điều suy nghĩ trong dịp tất niên, xin trao đổi cùng bạn đọc tuần báo An ninh thế giới, hầu mong được quý vị lãnh đạo và các cơ quan chức năng để tâm tham khảo
