Lệnh truy nã đỏ của INTERPOL
Khi thông báo các thông tin liên quan đến hoạt động tội phạm nói chung trên phạm vi toàn cầu, Cơ quan Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL) thường sử dụng 6 loại lệnh truy nã có màu sắc khác nhau bao gồm: màu đỏ, màu xanh lam, màu xanh lục, màu đen, màu vàng và màu da cam. Trên các lệnh truy nã này đều có in biểu tượng của INTERPOL.
Lệnh truy nã đỏ là quy ước truy nã phổ biến và nổi tiếng nhất trong hệ thống lệnh truy nã hiện có của INTERPOL và cũng là một loại giấy chứng nhận bắt giữ hình sự mang tính chất tạm thời. Lệnh truy nã đỏ chính thức được ban hành và có hiệu lực sau khi có cả hai chữ ký, một của Trưởng trung tâm INTERPOL nước xin phát lệnh truy nã và chữ ký của Tổng thư ký Tổ chức INTERPOL quốc tế.
Trong lệnh truy nã đỏ ngoài ảnh đối tượng truy nã còn có hai phần nội dung chính yếu. Phần thứ nhất là những thông tin liên quan nhân thân đối tượng (họ tên, quốc tịch, đặc điểm nhận dạng, vân tay, số hộ chiếu, số chứng minh thư...). Phần thứ hai là những thông tin tư pháp thông báo quá trình phạm tội và những căn cứ pháp luật để bắt giữ đối tượng (trích yếu vụ án, tòng phạm, tội danh, các điều khoản pháp luật liên quan, lệnh bắt giữ, bản án, thời gian bản án có hiệu lực...).
Trong vòng 1 tuần, lệnh truy nã đỏ sẽ được Tổng thư ký INTERPOL xem xét, sau đó chuyển cho các chuyên gia luật pháp của INTERPOL thẩm định kỹ càng mới được ký duyệt và chính thức có hiệu lực tại lãnh thổ các quốc gia thành viên INTERPOL.
Hệ thống lệnh truy nã toàn cầu của INTERPOL phân cấp thành hai mức độ dành cho các đối tượng sử dụng khác nhau. Mạng công cộng được truyền tải rộng rãi trên mạng Internet. Cấp độ thứ hai là mạng thông tin nội bộ của INTERPOL ngoài việc cung cấp những thông tin về những kẻ tội phạm bị truy nã nói chung còn đăng tải những trường hợp truy nã đặc biệt.
Các trung tâm chức năng tại các nước thành viên INTERPOL thường tải những thông tin về đối tượng phạm tội từ mạng nội bộ của INTERPOL về mạng nội bộ các cơ quan chấp pháp trong nước để tiện cho công tác điều tra, phát hiện tội phạm quốc tế.
Có nước còn dẫn nhập những thông tin này vào hệ thống kiểm tra an ninh, hàng hóa tại sân bay, hải cảng, cửa khẩu biên phòng để tiện quản lý theo dõi, phát hiện tội phạm từ nước ngoài xâm nhập vào.
Thời hạn có hiệu lực thi hành đối với một lệnh truy nã đỏ là 5 năm, nếu hết hạn thi hành mà vẫn chưa bắt được đối tượng truy nã thì INTERPOL lại quyết định gia hạn hiệu lực thêm 5 năm nữa cho tới khi nào bắt được đối tượng mới thôi.
Theo thống kê năm 2003, INTERPOL đã ra tổng cộng 2.122 lệnh truy nã các loại, trong đó có 1.207 lệnh truy nã đỏ và đã có 1.960 tên tội phạm đang bị truy nã bị bắt. Trong năm 2004, tất cả quốc gia thành viên đã đề nghị INTERPOL ra 70.000 lệnh truy nã đỏ, trong đó Trung Quốc là nước đề nghị nhiều nhất với 1.620 lệnh truy nã đỏ. Phần lớn lệnh truy nã đỏ của Trung Quốc thực hiện thông qua INTERPOL nhằm truy bắt những tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, trong đó có rất nhiều quan tham.
Tuy nhiên, hiện nay một số nước phương Tây thường lấy nguyên nhân chính trị để từ chối yêu cầu dẫn độ tội phạm tới các nước có chế độ chính trị khác với nước họ. Điển hình là việc Mỹ đã nhiều lần tìm cớ từ chối thi hành lệnh truy nã đỏ của Trung Quốc thông qua INTERPOL phát ra, khiến cho những kẻ phạm tội tại Trung Quốc bỏ trốn sang Mỹ có được chỗ dung thân.
Nguyên nhân kinh tế cũng rất quan trọng, những kẻ phạm tội thường thông qua nhiều cách thức khác nhau để hợp pháp hóa số tiền tham ô trong nước của mình. Luật về thi hành án (nhất là án tử hình) của một số quốc gia cũng có nhiều bất đồng khiến lệnh truy nã các đối tượng khó có thể thực hiện được.
Đó là chưa kể giữa một số quốc gia mặc dù đã ký với nhau Hiệp định hợp tác dẫn độ vô điều kiện tội phạm quốc tế nhưng chỉ giới hạn áp dụng đối với các loại tội phạm rửa tiền, buôn bán ma tuý, còn với đối tượng phạm tội tham nhũng bỏ trốn ra nước ngoài sau đó xin tị nạn chính trị thì việc thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn
