Kinh tế thị trường, thành tựu chung của tư duy nhân loại
Người ta từng lầm lẫn nghĩ rằng, kinh tế thị trường chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản (CNTB). Thực ra, dù khái niệm kinh tế thị trường chỉ mới được dùng phổ biến từ sau thế chiến thứ hai của thế kỷ XX, nhưng bản thân nền kinh tế thị trường thì đã tồn tại từ lâu.
Với vai trò như một hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đã tồn tại trước CNTB, trong lòng xã hội tư bản và có thể dự báo một cách khoa học là, cả ở những hình thức xã hội sau TBCN.
Với tư duy Marx - Lênin đổi mới, cần thấy rõ những ưu thế của cơ chế kinh tế thị trường nói chung trong việc phát triển mạnh mẽ các lực lượng sản xuất đi đôi với điều hòa lợi ích chung của chúng thông qua cạnh tranh, từ đó, tạo nên được những sản phẩm ngày một tốt hơn, có chất lượng cao hơn cho xã hội. Cơ chế kinh tế thị trường đã và đang được rất nhiều nước áp dụng theo những định hướng khác nhau, tùy theo mô hình xã hội và điều kiện cụ thể của từng nơi.
Tại từng địa điểm cụ thể, trong những thời điểm cụ thể, nền kinh tế thị trường phải chịu sự chi phối của những hệ tư tưởng, văn hóa, tôn giáo khác nhau. Đã từng tồn tại ở thế kỷ trước cơ chế kinh tế thị trường hoàn toàn tự do cạnh tranh, "khôn sống mống chết". Trong một nền kinh tế như thế, mọi sự trông cậy vào "bàn tay điều tiết vô hình" của chính thị trường: cái gì có nhu cầu lớn thì giá cao, cái gì được chuộng nhiều thì trở nên quý giá, cá lớn được thoải mái nuốt cá bé... Nhưng một nền kinh tế đã huy động được khá dồi dào mọi nguồn lực xã hội như thế lại không có khả năng giúp xã hội trở nên hài hòa và nhân bản hơn, liên tục làm nảy sinh các khủng hoảng và xung đột...
Để tự cứu mình, CNTB hồi đầu thế kỷ XX đã tính tới phương thức kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, nhằm ít nhiều loại trừ các nguyên nhân gây nên bùng nổ xã hội trong cuộc đua tranh tự do hoang dã. Và phải nói rằng, đây là một bước cách tân khá hữu hiệu của CNTB trong những năm từ những năm 30 tới sau thế chiến thứ hai, vừa giúp cho tư bản độc quyền tồn tại, vừa tạm thời xoa dịu được những bất mãn của người lao động.
Tuy nhiên, với bản chất suy tôn tư bản độc quyền, coi trọng quyền lợi của tư bản cao hơn tất cả, hình thái này vẫn không giúp xã hội TBCN thoát khỏi những mâu thuẫn và xung đột bẩm sinh. Các nhà tư bản trong cơ chế thị trường có điều tiết của nhà nước tư bản cảm thấy mình bị "quá thiệt thòi" vì những đóng góp cho các phúc lợi xã hội.
Trong khi đó, đời sống người lao động vẫn tiếp tục trở nên tồi tệ trong mối quan hệ tương hỗ với các ông chủ, đặc biệt là tại các nước "TBCN hạng hai" nằm ngoài Tây Âu và Bắc Mỹ. Nạn thất nghiệp không bị thủ tiêu mà còn gia tăng ngày một cao hơn. Nền kinh tế vẫn thường xuyên rơi vào khủng hoảng và suy thoái. Hơn nữa, do sự phát triển nhanh, mạnh của nhiều tập đoàn công ty siêu quốc gia, nhất là các tập đoàn tư bản tài chính hiện nay, vai trò điều tiết của từng nhà nước tư sản đối với họ đã bị suy giảm tác dụng...
Chính vì thế nên vào những năm 80, nữ Thủ tướng Anh quốc lúc đó là Margaret Thatcher đã tung ra chủ trương loại bỏ một nhà nước vì phúc lợi xã hội, tức là đưa nền kinh tế vào quĩ đạo của một chủ nghĩa tự do mới và mang màu sắc bảo thủ của thế kỷ XIX: thị trường nhiều hơn, nhà nước ít can thiệp hơn (Luận điểm này về sau được gọi là chủ nghĩa Thatcher).
Cạnh tranh tự do tuyệt đối lại được coi là điều kiện tối thượng để phát triển kinh tế. Khu vực tư nhân được mở rộng mạnh mẽ (Theo các tác giả cuốn "Các xu thế lớn năm 2000", chỉ trong vòng 8 năm từ 1980 tới 1988, trên 40% khu vực nhà nước Anh được cải tạo thành xí nghiệp tư nhân). Các chi tiêu công cộng bị giảm thiểu. Tư bản lại được ưu đãi đặc biệt. Bất cứ một điều luật nào có chức năng điều hòa quan hệ giữa tư bản và lao động, nhằm bảo đảm cho người lao động một mức sống ít nhiều tương xứng với mồ hôi nước mắt bỏ ra, đều bị những tín đồ của chủ nghĩa Thacher coi như biểu hiện của tư tưởng XHCN và xâm phạm tới nền tự do.
Đây có thể coi như là một sự đầu hàng của nhà nước TBCN trước sức ép mạnh mẽ và không hẳn đã dễ chịu, nếu không muốn nói hơn, của thị trường. Các tay buôn tài chính được thêm cơ hội lũng đoạn. Mặc dù vậy, với chủ trương phát triển bằng mọi giá, chủ nghĩa Thatcher đã thu hút được sự ủng hộ của nhiều chính phủ các nước tư bản và các định chế tài chính quốc tế. Và trái đắng nhỡn tiền là các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính đã và đang lan tràn ở nhiều nước, gây nên những hậu quả còn chưa lường hết được, cộng vào đó là tình trạng căng thẳng xã hội gia tăng.
Mặc dầu vậy, hiện nay, bóng ma của chủ nghĩa Thatcher vẫn còn ám ảnh cả những chính phủ mang danh thiên tả như nội các Tony Blair (vốn thuộc Công đảng, tức là đảng đối lập với đảng Bảo thủ của Thatcher) ở Anh vì sức hấp dẫn của những chỉ tiêu kinh tế có thể tăng vọt.
Tuy nhiên, không thể tai ngơ mắt lấp trước những hậu quả mà chủ nghĩa Thatcher đã gây nên vì trong xã hội tư bản, không bao giờ sự giàu có của cải của những cá thể lại trùng khít với sự phân phối hợp lý các phúc lợi chung; các học giả kinh tế TBCN đang cố gắng tìm ra một lối thoát nào khác trong nền kinh tế thị trường của mình.
Toa thuốc mới tới nay vẫn chưa được kê xong. Nhưng dù chủ nghĩa tự do mới có được thay thế bằng hình thức gì thì với quan điểm trọng tư bản hơn nhân bản, làm sao có thể đạt được một xã hội phát triển hài hoà trong một nền kinh tế như thế. Tín hiệu báo động hiện đã được không ít bậc trí giả trong lòng CNTB nhận thức rõ ràng: phát triển như thế đồng nghĩa với phản phát triển
