Giáo hoàng John Paul II về với Chúa

Thứ Năm, 07/04/2005, 16:10

Giáo hoàng John Paul II đã qua đời ngày 2/4/2005 vào lúc 21h 37’ theo giờ địa phương (2h 37’ sáng 3/4 theo giờ Việt Nam). Câu hỏi được mọi người quan tâm nhất trong lúc này là ai sẽ là người xứng đáng ngồi vào ngai vị tối cao của Vatican và chăm lo phần tinh thần cho hơn 1 tỷ tín đồ trên toàn thế giới?

Giáo hoàng đã về bên Chúa ở tuổi 85, tức là sau 27 năm trị vì (một kỷ lục lâu thứ ba trong lịch sử các đời giáo hoàng). Thời gian gần đây, sức khỏe của Giáo hoàng đã giảm sút rõ rệt với căn bệnh viêm khớp và Parkinson. Theo cơ quan báo chí của Vatican, sau đợt phẫu thuật khí quản ngày 24/2/2005, Giáo hoàng đã phải nhận thức ăn qua ống truyền một thời gian dài, khiến ông sụt tới 19 kg. Một ngày trước đó, giới lãnh đạo Vatican đã thông báo về việc sức khỏe của Giáo hoàng đang xấu đi trầm trọng do bị sốt và nhiễm trùng đường tiết niệu. Tòa thánh đã chuẩn bị mọi việc cho trường hợp xấu nhất. Hồng y giáo chủ Camillo Ruinil, người theo giáo luật được ủy quyền tuyên bố về cái chết của Giáo hoàng đã túc trực tại Vatican. Lãnh đạo các quốc gia trên thế giới đều bày tỏ sự đau buồn trước cái chết của Giáo hoàng John Paul II.

Cuộc đời của Giáo hoàng John Paul II

Không có gì phải nghi ngờ khi đánh giá Giáo hoàng John Paul II đã đi vào lịch sử Giáo hội với tư cách là một trong những giáo hoàng kiệt xuất nhất. Không có nhiều người tiền nhiệm như ông có thể giành được uy tín trong nhiều lĩnh vực như vậy - từ một linh mục hàng đầu cho đến một nhà hoạt động xã hội và thậm chí cả một chính trị gia. 

Giáo hoàng John Paul II (có tên khai sinh là Karol Jozef Wojtyla) sinh ngày 18/5/1920 tại Wadowice (Ba Lan) trong gia đình của một quân nhân. Tuổi thơ của ông đã chứng kiến quá nhiều mất mát. Khi chưa đầy 21 tuổi, Wojtyla đã bị mất tất cả người thân trong gia đình: chị gái chết từ khi còn nhỏ, mẹ mất năm ông mới 8 tuổi, người anh trai chết năm 11 tuổi và người cha cũng ra đi chỉ 3 tháng trước sinh nhật lần thứ 21 của ông.

Sau khi tốt nghiệp Trường trung học Wadowice, Wojtyla thi vào Khoa Triết, Trường đại học Tổng hợp tại Krakow, nhưng ông phải nhanh chóng bỏ học vì chiến tranh nổ ra. Ông phải đi làm công nhân tại một mỏ đá. Trong thời gian quân phát xít chiếm đóng Ba Lan, ông tham gia nhiều hoạt động của phong trào Thiên Chúa giáo. Sau chiến tranh, Wojtyla được phong làm linh mục vào năm 1946. Ông còn trải qua nhiều khóa đào tạo về Thiên Chúa giáo tại Italia, Thụy Sĩ và Bỉ. Trở về Ba Lan vào năm 1948, Wojtyla thăng tiến rất nhanh trong hàng ngũ các chức sắc Giáo hội tại đây và được phong chức Tổng giám mục vào năm 1964, Hồng y giáo chủ vào năm 1967. Ông được Hội đồng Hồng y giáo chủ bầu chọn làm Giáo hoàng ngày 16/10/1978 và lấy tên hiệu là John Paul II.

Trong 27 năm trên cương vị người cha tinh thần của hơn 1 tỉ tín đồ Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới, John Paul II đã tiến hành một cuộc cách mạng thực sự trong Giáo hội. Ông đã phê chuẩn và cho ban hành rất nhiều tài liệu cơ sở của Vatican như hiến pháp về giáo đồ, các điều khoản về giáo luật, sách giáo lý về đạo Thiên Chúa v.v... Giáo hoàng đã bổ nhiệm tổng cộng 220 hồng y giáo chủ, thay thế tới 90% số thành viên Hội đồng Giám mục, thành lập thêm gần 300 giáo khu mới.

Giáo hoàng John Paul II có cường độ làm việc rất cao với tổng cộng hơn 100 chuyến công du nước ngoài, viếng thăm hơn 120 quốc gia, tham gia hơn 900 buổi tiếp kiến, viết gần 50 tập sách về các giáo điều của đạo Thiên Chúa. Dưới thời của Giáo hoàng Vatican đã có tiếng nói quan trọng hơn trong những vấn đề xã hội trên toàn thế giới.

John Paul II nổi tiếng là người có quan điểm chống chiến tranh, đấu tranh chống đói nghèo và bảo vệ những giá trị tinh thần của xã hội. Ông đã đứng ra phê phán gay gắt cuộc chiến tại Iraq, những âm mưu cấm vận chống lại Cuba, Lybia, Iraq v.v... Giáo hoàng có thái độ phản đối rất cương quyết chống lại những vấn đề như tránh thai, nạo thai, ly hôn v.v...

Giáo hoàng John Paul II là giáo hoàng đầu tiên đã bày tỏ sự hối tiếc về vấn đề tòa án Giáo hội và những cuộc thập tự chinh trong quá khứ. Dưới thời Giáo hoàng, Giáo hội đã xem xét lại thái độ của mình với học thuyết của Charles Darwin, phục hồi danh dự cho Bruno và Galiléo.

Giáo hoàng John Paul II luôn nỗ lực truyền bá và khuyến khích cho tinh thần hòa hợp dân tộc và tôn giáo. Ông cũng là giáo hoàng đầu tiên bước vào cầu nguyện tại các thánh đường Hồi giáo và Do Thái giáo. Cũng chính vì mong muốn luôn được gần gũi với các tín đồ, John Paul II đã bị tên khủng bố gốc Thổ Nhĩ Kỳ có tên Mehmet al-Agca bắn trọng thương ngay tại Quảng trường Thánh Pierrè. Nhưng ngay sau khi bình phục, Giáo hoàng đã đến trực tiếp gặp gỡ al-Agca và tha tội cho hắn.

Ai sẽ trở thành người thay thế John Paul II?

Theo quy định, khoảng từ 15 đến 20 ngày sau khi Giáo hoàng qua đời, Hội đồng các Hồng y giáo chủ sẽ tụ họp tại Vatican để bỏ phiếu kín bầu ra một người kế nhiệm mới. Thành phần hội đồng này không quá 120 người, trong đó các thành viên không được vượt quá tuổi 80. Ngày giờ chính xác của cuộc họp sẽ do Hội đồng Hồng y giáo chủ quyết định.

Ngoài ra, để ngăn cản bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài, hội đồng này sẽ hội họp và bầu chọn trong tình trạng cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Các Hồng y trong Hội đồng bị cấm trao đổi hay liên lạc với những người ngoài, không được tiếp xúc với báo chí, nghe đài hay xem truyền hình. Họ cũng phải tuyên thệ giữ bí mật về tất cả những nội dung họp. Việc bầu chọn không được xem xét trên bất kỳ một danh sách ứng cử viên nào. Các Hồng y sẽ tự chọn người mà mình tín nhiệm để bầu. Nếu không có ứng cử viên nào giành được từ 2/3 số phiếu trở lên để trở thành giáo hoàng trong đợt bầu đầu tiên, các Hồng y giáo chủ sẽ phải họp lại và bầu tiếp cho đến khi được thì thôi.

Theo ước nguyện khi còn sống của Giáo hoàng John Paul II, người kế nhiệm phải là một Hồng y giáo chủ (hoặc Tổng giám mục) ở độ tuổi từ 62 đến 72 tuổi, có khả năng nói tiếng Anh & Italia, và đặc biệt phải kế tục được quan điểm của người tiền nhiệm.

Trước mắt, có thể nêu ra một số quan chức Giáo hội đáng chú ý có thể trở thành tân giáo hoàng. Tại châu Âu ngoài Italia, có thể kể tới Tổng giám mục Vienna Christoph Schonborn. Người đứng đầu Hội đồng Giám mục Giovani Batista, đứng đầu trong danh sách 44 hồng y giáo chủ mới được bổ nhiệm cũng giành được sự tín nhiệm rất cao của Giáo hoàng. Còn phải kể đến Tổng giám mục 67 tuổi của thành Milan là Dionigi Tettamanzi. Còn rất nhiều Tổng giám mục nữa có thể nêu ra trong vai trò người kế nhiệm của Giáo hoàng John Paul II. Nói chung, đây là một sự kiện khó có thể dự đoán trước. Chắc hẳn mọi người vẫn nhớ tới việc, bản thân John Paul II trước khi được bầu làm Giáo hoàng đã không được bất kỳ ai nhắc đến trong vai trò ứng cử viên.

Vấn đề mọi người đang quan tâm là liệu Giáo hoàng mới có phải là một người Italia hay không? Giáo hoàng John Paul II là trường hợp đầu tiên trong vòng 5 thế kỷ qua không phải là người gốc Italia. Về phần này, các Hồng y giáo chủ tại Rome đang chiếm ưu thế. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng, ngai vàng Giáo hội rất có thể sẽ thuộc về những người xuất thân từ châu Phi hay châu Mỹ Latinh. Chỉ trong vòng 20 năm gần đây, số lượng tín đồ Thiên Chúa giáo tại châu Phi đã tăng gần như gấp đôi (từ 50 triệu lên 90 triệu người). Nếu tính chung, số tín đồ của châu Phi và Mỹ Latinh đã chiếm tới 2/3 tổng số tín đồ Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới. Khuynh hướng tăng trưởng này vẫn đang được duy trì, trong khi tại châu Âu thì ngược lại với tỉ lệ những người vô thần dường như lại tăng lên. Đó là lý do khiến nhiều chuyên gia đánh giá cao khả năng của các ứng cử viên như Oscar Andres Rodriguez Maradiaga - Tổng giám mục Tegucigalpa người Honduras, Tổng giám mục Claudio Hummes (tại Sao Paolo) hay Tổng giám mục Jorge Mario Bergoglio (tại Buenos Aires). Hàng triệu tín đồ Thiên Chúa giáo của châu Phi lại đặt niềm tin vào ứng cử viên Francis Arinze người Nigeria

Đinh Linh (Tổng hợp)
.
.
.