Về thơ và không chỉ về thơ

Thứ Hai, 04/08/2008, 15:00
Đã có một thời kỳ rất dài, tiếng tăm nhà thơ luôn đi cùng với sự quý trọng của cộng đồng, dẫu đó là vị khoa bảng lừng danh hay một tác giả dân gian chuyên sử dụng các thể loại lục bát hoặc hai chữ, bốn chữ để kể tả các câu chuyện trong làng.

Chẳng khác nhiều nếu so với các vị đại gia về tuổi lịch sử của tác phẩm, thường thì các câu văn vần nôm na, đậm chất hài hước của nhiều người làm thơ dân gian cũng có sức sống không kém lâu bền. (Tuy muộn hơn về lịch sử, vẫn muốn nhắc tới mấy câu lục bát được mở đầu bằng: Chưa đi chưa biết Đồ Sơn… mà hẳn là nhiều người đã biết!).

Vậy là, bác học hay dân gian thì cũng là nhà thơ; mẫn tiệp, sáng suốt hay có vẻ hâm hấp, chập cheng thì cũng là nhà thơ. Mà phàm đã là nhà thơ thì bên cạnh sự nổi tiếng còn có cả sự hấp dẫn của phong thái lãng mạn.

Tôi từng gặp một vài chàng trai chưa làm thơ bao giờ nhưng rất khoái tạo dáng thi sĩ bằng cách nuôi một bộ tóc dài để lõa xõa trước trán, vẻ mặt đôi lúc trầm ngâm, mắt nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lại đưa ra vài ba bình luận về thơ hay chậm rãi đọc thơ của ai đó (tương tự như không ít anh chàng ở xứ ta bây giờ, nghệ sĩ hay không thì cũng có chòm râu lơ phơ dưới cằm, hay có bộ tóc dài buộc túm ra sau gáy!)…

Nhưng thời thịnh trị của thơ rồi cũng qua đi, cuộc sống đã có nhiều thú vui tinh thần - thẩm mỹ mới mà thơ không thể thay thế. Vả lại, sống trong thế giới hiện đại, con người còn có rất nhiều việc phải lo toan, rồi tiết tấu nhanh gọn của nhịp điệu cuộc sống đã làm cho lớp trẻ xem ra cần Rock n' roll, Hip-hop hơn là những câu thơ lên bổng xuống trầm.

Dần dà thơ ca không còn giữ được vị trí ưu thắng trong sinh hoạt xã hội, mặt khác, cuộc mưu sinh cũng không cho phép người ta làm thơ chỉ để ngâm ngợi tiêu dao mà còn phải kiếm sống. Miếng cơm manh áo buộc những ai còn mê mải với bầu rượu túi thơ cũng phải tính tới bát gạo túi tiền.

Những câu thơ khí phách, thanh cao hay bay bổng với trăng với hoa, với tình anh tình em… dù sao cũng không thể cho vào nồi. Điều này không cần phải chờ tới hôm nay, vì trước khi Xuân Diệu thốt lên: Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt - Cơm áo không đùa với khách thơ thì Tản Đà cũng đã nói tới hai chữ "bán thơ" rồi.

Lại nhớ làng thơ xứ ta lưu truyền một giai thoại rằng, nhà thơ X tối ngày quanh quẩn với thơ, kiếm được đồng nào rượu bia đồng ấy, chẳng ngó ngàng thùng gạo của gia đình. Một tối về nhà, thấy sẵn "cơm ngon canh ngọt hả hê vợ chờ" nhà thơ hý hửng mở lồng bàn thì than ôi, giữa mâm chỏng chơ một… tập thơ.

Kể lại cho vui vậy thôi, chứ tôi đã gặp một số phu nhân thi sĩ, dù chưa thật đồng cảm với tình trạng đắm đuối thơ ca của đức lang quân thì vẫn trách yêu trước mặt bạn bè: "Anh nhà em đoảng lắm, thơ phú suốt ngày", rồi… cười bẽn lẽn. Thế mới xứng đáng là vợ nhà thơ!

Suốt thời trung đại, thơ ca nước Việt hầu như đi theo những kiểu lối ít biến động. Loại hình tác giả có thay đổi, nối tiếp nhau về thế hệ thì thơ ca vẫn phải tuân thủ các hình thức nghiêm ngặt để thi nhân bày tỏ cái chí của mình, kể cả với tác giả phóng khoáng như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…

Gần đây, đọc cuốn sách Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX, những vấn đề lý luận và lịch sử gồm 24 chuyên luận, của nhiều tác giả, do PGS TS Trần Ngọc Vương chủ biên, tôi càng thấy rõ tính ổn định, hầu như bất biến của hình thức thể loại trong văn học viết ở Việt Nam quãng 10 thế kỷ.

Những bài kệ hay nhất của các thiền sư thời Lý - Trần, những bài thơ hay nhất của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… trở thành bất hủ một phần nhờ vào tài năng, một phần nhờ vào trí tuệ, nhân cách của họ đã được cộng đồng thừa nhận, kính trọng. (Với các danh nhân này, liệu có thể nói rằng nếu thiếu đi các bài thơ thì sự nghiệp của họ cũng không vì thế mà suy suyển?).

Còn về hình thức, những khuôn mẫu hầu như không biến động đã không cho phép họ sáng tạo hay bổ sung. Tới nửa đầu thế kỷ XX, một cuộc cách mạng trong thơ xuất hiện. Thơ mới đã làm nên một bước ngoặt cực kỳ quan trọng cho thơ Việt Nam qua tác phẩm của một thế hệ thi sĩ đã hoàn toàn khác trước về trạng thái tinh thần, về sự tích hợp tri thức, về năng lực sáng tạo.

Đặt sang một bên chuyện thắng hay thua, bằng vào các cuộc tranh luận duy vật và duy tâm, nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, tranh luận về Truyện Kiều, về Thơ mới… thì hình như các học giả, các nhà thơ thời này đã ý thức rất cụ thể về bước ngoặt của văn học nói chung, của thơ ca nói riêng, chỉ được tiến hành sau khi đã giải quyết một cách cơ bản mối quan hệ triết học - mỹ học - văn học; và tự thân văn học khó có thể phát triển nếu chưa giải quyết rốt ráo một số hệ lụy tinh thần đã bắt rễ ăn sâu vào truyền thống, nếu không được khai sáng bởi tinh thần của triết học, mỹ học mới. --PageBreak--

Một bước ngoặt như thế đối với nghệ thuật Việt Nam, trước hết là dựa trên nền tảng một cuộc tiếp xúc văn hóa dẫn tới một quá trình tiếp biến giữa văn hóa - văn minh Việt Nam với văn hóa - văn minh phương Tây, trực tiếp là văn hóa - văn minh Pháp.

Hẳn là do đã nhận diện được bản chất của tình trạng, nên Hoài Thanh mới viết: "Nhưng, nhất đán, một cơn gió mạnh đã từ xa thổi tới. Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ… Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, kim tây, đinh tây. Đừng tưởng tôi ngụy biện.

Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới.

Trong công cuộc duy tân, ảnh hưởng của nó ít ra cũng ngang ảnh hưởng của những sách nghị luận của hiền triết Âu Mỹ, cùng những sách của Khang, Lương. Sĩ phu nước ta từ xưa vốn chỉ biết có Khổng Tử, bắt đầu dẫn Mạnh Đức Tư Cưu với Lư Thoa".

Từ đó suy ra: Phải chăng một phương pháp tư duy mới đã được du nhập, một quan niệm nghệ thuật mới đã được tiếp nhận, một thế hệ nghệ sĩ mới đã ra đời, một hiện thực mới đã nảy sinh, một quá trình nhận thức - phản ánh - sáng tạo theo lối mới đã hình thành… cùng phối kết với nhau để làm nên tiền đề cơ bản, quyết định bước tiến quan trọng của nghệ thuật Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX?

Xét từ tính liên tục lịch sử, một bước ngoặt của thơ không xuất hiện từ hư vô mà luôn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với quá khứ và tương lai của thơ. Nói cách khác, đó không phải là một sự kiện hay tình trạng loại biệt.

Làm thơ theo "lối mới" nhưng nhiều tác giả thơ mới vẫn không đoạn tuyệt với một số loại thể thơ truyền thống. Nguyễn Bính trung thành với lục bát, Vũ Đình Liên thành công với thơ năm chữ… Điều cần nhấn mạnh là họ đã "thổi" vào thơ ca một sắc thái tinh thần - thẩm mỹ mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại mới, phù hợp với trình độ cảm thụ mới của số đông công chúng.

Tôi tin, trước khi "trình chánh" một lối thơ mới giữa làng, các tác giả hẳn chưa nghĩ tới việc họ sẽ làm một cuộc cách mạng trong thơ mà chỉ nghĩ tới việc cần phải làm mới thơ.

Đặc biệt là tri thức và sự mẫn tiệp đã giúp họ không nặng lời phê phán hay chê bai thơ ca của người đi trước. Họ tựa lưng vào truyền thống để vượt lên, họ vẫn là nhà thơ Việt Nam, không phải là bản sao hay là đồng dạng phối cảnh của nền thơ họ đã học tập.

Tiếp xúc văn hóa đã mở ra chân trời mới cho sự tiếp nhận tri thức. Đó cũng là một thử thách đối với bản lĩnh văn hóa của con người, họ sẽ đánh mất mình một khi đã để cho các "cú sốc văn hóa" chi phối nhận thức, chi phối hành vi ứng xử với cộng đồng.

Từ các thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ trước, một kiểu loại nhà thơ mới xuất hiện trong đời sống văn học. Họ không phải là đại khoa, không phải là thi sĩ dân gian ẩn mình sau lũy tre làng. Họ cũng không có địa vị xã hội cao để thơ "dựa" vào mà nổi tiếng. Họ tự làm nên tên tuổi qua các sáng tác.

Xét theo ý nghĩa nào đó, họ là thế hệ làm thơ đầu tiên đã "sống bằng thơ" theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng của mệnh đề này. "Sống bằng thơ" nên họ phải nghĩ tới chuyện cơm áo. "Sống bằng thơ" nên họ phải (dám) vắt kiệt mình cho thơ. Lại nghĩ Nguyễn Bính chưa hẳn đã chân quê chỉ vì ông yêu quê đến hết mình.

Sự thăng trầm của cuộc đời, bước chân giang hồ của thi sĩ, lối sống xô bồ của đô thị mới manh nha đã làm ông chán nản. Vì thế hai chữ chân quê trở thành nỗi hồi nhớ da diết trong ông. Giả dụ nỗi hồi nhớ da diết ấy là sự thật thì phải kính trọng ông, bởi ông đã hết mình cho nó.

Ngày nay thì khác, những người làm thơ lăng xăng nhiều nhất trên văn đàn lại hình như chưa bao giờ nghĩ tới hai chữ hết mình cho thơ, trong đó có một số cây bút mà tôi nghĩ, sẽ không bao giờ có thể biết hết mình nếu tiếp tục ký sinh vào kiểu sống hời hợt.

Bị mê hoặc bởi ý niệm hiện đại qua các phương tiện văn minh, họ trở thành khách thơ đeo laptop, la cà ở các quầy bar để uống rượu Tây, phì phèo thuốc Tây, bàn chuyện nghệ thuật ở tầm vĩ mô, hỉ hả kể lể bên Mỹ người ta thế này, bên Pháp người ta thế kia.

Tôi liên tưởng tới tình thế sau lưng họ là một quá khứ trống rỗng, trước mắt họ là một thế giới khác, không thuần Việt, cũng chẳng thuần gì, chỉ có cái tôi như "cái rốn" của vũ trụ… mà họ không cần cân nhắc trước khi đem ra để lòe thiên hạ.

Với hành trang như thế, thơ sẽ chỉ là trò chơi, chỉ là bàn đạp cho sự nổi tiếng chứ không phải mục đích để hết mình. Tuy thế, không hết mình song vẫn cần phải sống, vẫn cần phải bán thơ, mà thơ như thế thì bán cho ai. Đó nghịch lý mà họ không bao giờ có thể giải quyết

Nguyễn Hoà
.
.
.