Tình báo Mỹ tại chiến trường Việt Nam: Những chuyện chưa từng được kể

14:15 06/05/2016
Không chỉ Cục Tình báo Trung ương (CIA), Cơ quan Quân báo Quốc phòng (DIA) thuộc Lầu Năm Góc, Cơ quan An ninh quốc gia (NSA) và Văn phòng do thám quốc gia (NRO), Bộ Ngoại giao Mỹ cũng tham gia tình báo thời chiến tranh Việt Nam. Đây là một trong những bí mật dai dẳng và chỉ được công bố mới đây, dựa vào tài liệu giải mật được đăng trên website Cục Tàng thư quốc gia Hoa Kỳ. Cụ thể, Bộ ngoại giao Mỹ làm gì tại chiến trường Việt Nam?


Nghiên cứu tình báo của Bộ Ngoại giao Mỹ

Nghiên cứu tình báo của Bộ Ngoại giao Mỹ thời chiến tranh Việt Nam được tiến hành từ Phòng nghiên cứu tình báo (INR) thuộc cơ quan này. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu khảo sát chi tiết tình hình Việt Nam vào năm 1968, dưới chỉ đạo của Thomas L. Hughes, lúc đó là giám đốc INR. 

Bản nghiên cứu đề tựa A Review of Judgments in INR Reports (Khảo sát đánh giá các báo cáo INR) hoàn thành năm 1969 và vẫn là tài liệu tuyệt mật trong nhiều thập niên cho đến cách đây vài năm.

Phần quan trọng nhất trong tài liệu là báo cáo tổng kết quan điểm Bộ Ngoại giao Mỹ về các chủ đề tình báo khác nhau suốt thập niên 1960, được trình bày bởi W. Dean Howells và Dorothy R. Avery (hai viên chức INR đặc trách Đông Nam Á). Cần nhấn mạnh, Bộ Ngoại giao là một trong những cơ quan quan trọng hàng đầu Nội các Hoa Kỳ, nơi đóng vai trò hoạch định chính sách cũng như chiến lược đối ngoại. 

Nhóm sĩ quan quân báo Mỹ thuộc lực lượng 245th PSYOP tại Pleiku đầu năm 1967.

Trong các động thái đối với tình hình Việt Nam thời thập niên 1960, nhiệm vụ đầu tàu trong chiến lược đối sách của Bộ Ngoại giao Mỹ càng được tô đậm. Sau khi nhậm chức tổng thống, John F. Kennedy chỉ định Roger A. Hilsman làm giám đốc INR.

Chủ trương biến INR thành bộ máy hoạch định chính sách, Hilsman kích hoạt loạt thay đổi trong Bộ Ngoại giao. Kennedy tin cậy Hilsman đến mức thường tham khảo ý kiến nhân vật này hơn cả Ngoại trưởng Dean Rusk. Khi vụ khủng hoảng tên lửa Cuba xảy ra năm 1962, Hilsman đóng vai trò quan trọng trong điều phối tình báo cũng như tổ chức loạt cuộc họp giữa Kennedy và EXCOM (Ủy ban điều hành thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Hoa Kỳ).

Từng là cựu binh Thế chiến thứ hai tại Myanmar (khi làm việc cho OSS - tiền thân CIA), Hilsman rành rẽ các thủ thuật của chiến tranh bất qui ước, phù hợp với quan điểm Kennedy về chiến tranh chống du kích tại Việt Nam. 

Hilsman thậm chí còn soạn cẩm nang đầu tiên về phương pháp chống chiến tranh du kích được phân phát cho quân đội Mỹ, trong đó ghi rõ cách thức đối phó cuộc chiến tranh nhân dân chống Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Nam Việt Nam. Nói cách khác, Hilsman đã đặt nền tảng cho cuộc chiến tình báo của Bộ ngoại giao Mỹ tại Việt Nam.

INR chỉ khoảng 350 nhân viên, được phân thành hai nhóm chính - nhóm liên lạc và nhóm phân tích thông tin tình báo. Nhóm liên lạc có nhiệm vụ điều phối và hợp tác với các cơ quan liên quan tình báo khác, giúp ngoại trưởng quyết định chính sách như thế nào đối với các đề nghị từ CIA cho những chiến dịch đặc biệt. 

Trong khi đó, nhóm phân tích làm việc chặt chẽ với các tuyến tình báo mặt trận (chẳng hạn Phòng nghiên cứu Liên Xô, nơi thu thập thông tin tình báo liên quan Xô Viết và hệ thống vệ tinh do thám Đông Âu). Với cuộc chiến Việt Nam, nhóm phân tích INR làm việc cùng Phòng Viễn Đông (RFE), nơi có các chuyên gia phân tích tình báo lão luyện.

Từ năm 1962-1966, RFE nằm dưới sự chỉ đạo của Allen S. Whiting, một tay gạo cội trong làng phân tích tình báo, từng nổi tiếng với công trình nghiên cứu China Crosses the Yalu (viết về những thất bại nghiêm trọng trong chính sách và tình báo thời chiến tranh Triều Tiên). 

Roger A. Hilsman.

Khi được Hilsman cất nhắc ở vị trí sếp RFE, Whiting tuyển dụng (cô) Evelyn Colbert làm trưởng chi nhánh văn phòng Viễn Đông. Là một bản sao của Hilsman, Colbert, 43 tuổi đã trở thành thế hệ phân tích gia (về tình báo) đầu tiên tại cuộc chiến Việt Nam. 

Trong khi Colbert đặc trách thông tin tình báo Nam Việt Nam, một nữ nhân viên RFE khác - Dorothy Avery - được giao nhiệm vụ nghiên cứu thông tin tình báo Bắc Việt. Dorothy Avery có bằng thạc sĩ Đông Á học tại Đại học Harvard, từng được CIA thuê thực hiện các công trình phân tích về cộng sản Trung Quốc. Ngoài ra, RFE còn có Louis G. Sarris, được giao nhiệm vụ khảo sát Việt Nam không lâu sau chuyến công lý sang Mỹ của tổng thống Ngô Đình Diệm.

INR làm gì?

Trong năm đầu tiên Kennedy ở ghế tổng thống, INR đóng vai trò quan trọng trong phác họa chính sách và tiếp tục khẳng định rằng Nam Việt Nam còn có một số gương mặt khác có thể thay tổng thống Diệm; rằng vấn đề khó khăn của Mỹ ở Nam Việt Nam xuất phát chủ yếu từ chương trình viện trợ vô bổ của Washington; rằng sức mạnh của Mặt trận giải phóng miền Nam khởi nguồn từ các làng quê Nam Việt Nam chứ không phải do sự trà trộn của bộ đội miền Bắc.

Sau chuyến thị sát thực tế của tướng Maxwell D. Taylor và phó cố vấn an ninh quốc gia Walt W. Rostow, INR tung ra báo cáo, ghi: "Điểm yếu cơ bản trong kế sách chống chiến tranh du kích (của Mỹ) là quan điểm phổ biến (từ Washington) rằng cuộc khủng hoảng Việt Nam có thể giải quyết thuần túy bằng viện trợ ào ạt". 

Tháng 1-1962, Kennedy yêu cầu Hilsman sang Nam Việt Nam. Viên giám đốc INR nhận thấy nỗ lực chống chiến tranh du kích bằng biện pháp quân sự là không đủ; đồng thời ủng hộ ý tưởng ấp chiến lược (sau chuyến đi, Hilsman đệ trình Kennedy báo cáo A Strategic Concept for South Vietnam). 

Mùa xuân 1963, Kennedy bổ nhiệm Hilsman làm trợ lý ngoại trưởng đặc trách các vấn đề Viễn Đông. Ghế giám đốc INR được giao cho Thomas L. Hughes.  

Ngày 22-10-1963, INR tung ra báo cáo Statistics on the War Effort in South Vietnam Show Unfavorable Trends (Thống kê về nỗ lực chiến tranh tại Nam Việt Nam cho thấy những khuynh hướng bất lợi). Báo cáo đã gây làn sóng chống đối dữ dội tại nhiều cơ quan chính phủ Mỹ. 

Trụ sở Bộ tham mưu quân đội Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Ban tham mưu Lầu Năm Góc chỉ trích mạnh báo cáo, cho rằng chuyên gia INR không đủ kinh nghiệm để bàn về cuộc chiến "đang thắng lợi" tại Nam Việt Nam của Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara chỉ trích báo cáo của INR không tiếc lời.

Ngoại trưởng Dean Rusk buộc phải gọi sếp INR Thomas L. Hughes vào văn phòng và đề nghị không tiếp tục làm nản lòng Lầu Năm Góc về viễn cảnh chiến thắng tại Nam Việt Nam (bản thân Rusk ủng hộ chính sách mạnh tay trong cuộc chiến chống cộng tại Đông Nam Á). 

Đến thời Tổng thống Lyndon B. Johnson, tình hình Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp. INR đã sai khi đánh giá thấp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cho đến sự kiện Vịnh Bắc bộ vào tháng 8-1964, không có bất kỳ nhận định tình báo nào của Mỹ cho thấy Hà Nội sẽ đưa quân vào miền Nam.

Tình báo Mỹ tin rằng Bắc Việt không dám đụng độ trực tiếp với quân đội Mỹ (mà thay vào đó chỉ ủng hộ Mặt trận giải phóng miền Nam) và Washington cũng không dám mạnh tay với Hà Nội do e ngại Bắc Kinh và Moscow vào cuộc (trong khi sếp CIA, John McCone liên tục yêu cầu Lyndon B. Johnson dội bom Hà Nội, INR cũng liên tiếp cảnh báo khả năng Trung Quốc chính thức đưa quân sang ủng hộ Bắc Việt Nam).

Trong một hội thảo năm 1991, nguyên giám đốc INR, Thomas L. Hughes đã nhắc lại mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng tình báo Mỹ về các phân tích tình hình chiến trường Việt Nam. Năm 1966, tình báo Mỹ vẫn không nắm chính xác tỉ lệ quân đội Bắc Việt tại Nam Việt Nam cũng như lực lượng vũ trang Mặt trận giải phóng miền Nam. 

Cựu viên chức INR Louis Sarris cho biết cơ quan mình thường xuyên bị "đe dọa" từ Lầu Năm Góc, đặc biệt xung đột với các ý kiến xung quanh đánh giá thực lực nội các Sài Gòn. 

Cụ thể một trường hợp: trong khi Ban cố vấn quân sự Hoa Kỳ (MACV) tin tưởng Thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ, báo cáo INR cho biết ông Kỳ đã dùng lực lượng Cảnh sát Quốc gia - nằm dưới chỉ huy của đồng minh Nguyễn Ngọc Loan, theo cách như Tổng thống Ngô Đình Diệm dùng đảng Cần Lao - cốt để củng cố chiến thắng trong cuộc bầu cử 1966.

Và có lần trong khi tư lệnh trưởng MACV William C. Westmoreland có mặt tại Washington giục Nhà Trắng đổ thêm bom vào Việt Nam, Louis Sarris trong chuyến kinh lý Sài Gòn đã được tướng Fred Weyand tâm sự: "Tôi chẳng thể hiểu cái mà ông Westmoreland nói về ánh sáng cuối đường hầm là cái quái gì. Chúng tôi có thể bị tấn công bất cứ lúc nào và chúng tôi không bao giờ biết kẻ thù xuất hiện từ đâu". 

Điều này cuối cùng đã xảy ra vào Tết Mậu Thân 1968. Như tất cả cơ quan tình báo Mỹ, INR hoàn toàn bất ngờ trước sự kiện "Việt Cộng" tấn công Sài Gòn. INR đã rơi vào bẫy khi tin rằng Bắc Việt chỉ đột kích căn cứ quân sự Mỹ tại Khe Sanh. 

10 ngày trước sự kiện Mậu Thân, INR thật ra đã phân tích một thông tin tình báo cho thấy loạt tấn công nhỏ của Bắc Việt nhằm lôi kéo sự chú ý và giãn độ tập trung của quân đội Mỹ tại các thành phố lớn…

Tiểu đoàn tín hiệu 69th quân đội Hoa Kỳ tại Sài Gòn (nơi xử lý hơn 26.000 cuộc gọi mỗi ngày).

Các chiến dịch quân báo

Trong phiên họp Hội đồng An ninh quốc gia ngày 29-4-1961, Tổng thống John F. Kennedy chuẩn y việc Cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA) hỗ trợ lực lượng quân báo Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Thời điểm đó, sự chia sẻ thông tin tình báo với nước ngoài còn là điều bất thường đối với ngành an ninh-tình báo Mỹ. 

Phó đô đốc Lawrence H. Frost - giám đốc NSA - đã ra lệnh Cục an ninh quân đội (ASA) lập tức triển khai kế hoạch. Vài tuần sau, Đơn vị chiến dịch đặc biệt ASA lên đường sang Nam Việt Nam.

Ngày 13-5-1961, những đôi giày bóng lộn của 93 sĩ quan quân báo Mỹ đã bước ra khỏi chiếc C-130 đỗ tại phi trường Tân Sơn Nhất. Xác định vị trí tình nghi đóng quân của du kích Việt Nam là một trong những nhiệm vụ của Đơn vị chiến dịch đặc biệt ASA. 

Ngoài ra, còn có chiến dịch White Birch gồm nghe lén; và chiến dịch thứ ba - Sabertooth - gồm huấn luyện quân báo VNCH kỹ thuật gián điệp hậu tuyến cũng như giải mã. Căn cứ Đơn vị chiến dịch đặc biệt ASA (còn gọi là Đơn vị nghiên cứu vô tuyến thứ ba) nằm  trong một nhà chứa máy bay cũ tại Tân Sơn Nhất, nóng hầm hập và ngột ngạt (trong khi đó, sếp Đơn vị chiến dịch đặc biệt ASA được "bố trí" ở tại khách sạn Majestic). 

Trong 7 tháng, lực lượng quân báo Mỹ tại Nam Việt Nam tăng hơn gấp đôi. Đến tháng 12-1961, lực lượng này đã lên đến 236 người, nằm rải rác tại 18 vị trí nghe lén, trong đó có điểm nghe lén và bắt tín hiệu quân báo Bắc Việt Nam đặt tại Phú Bài, gần khu vực phi quân sự (DMZ).

Công việc của quân báo Mỹ nguy hiểm không kém lính tác chiến, đặc biệt tại một chiến trường mà lính Mỹ "bị đột kích nhiều hơn mặt đối mặt kẻ thù" - như miêu tả của chính John F. Kennedy. 

Trong số sĩ quan quân báo thuộc Đơn vị chiến dịch đặc biệt ASA, có James T. Davis. Nhóm Davis được phân công truy tìm du kích tại vùng ven Sài Gòn. Muốn như vậy, James T. Davis phải ra sát khu vực tình nghi để bắt sóng liên lạc du kích. Ngày kia, cùng toán lính VNCH, James T. Davis mang theo thiết bị PRC-10 để bắt tín hiệu sóng ngắn. 

Ba ngày trước Giáng sinh 1961, James T. Davis lại lên chiếc jeep cùng toán lính bảo vệ VNCH phóng về phía Tây Sài Gòn. Khi cách căn cứ khoảng 15km, nhóm James T. Davis bị tấn công.

Cầm khẩu carbine M-1, James T. Davis bóp cò. Tuy nhiên, họ đã bị vây kín. Sau vài phút, 9 tay súng VNCH bị thiệt mạng. Một viên AK-47 bắn trúng đầu Davis từ phía sau. Davis đổ gục, trở thành sĩ quan quân báo Mỹ đầu tiên chết tại chiến trường Việt Nam (hai tuần sau, Đơn vị nghiên cứu vô tuyến thứ ba đổi tên thành Trạm Davis và thậm chí một doanh trại NSA tại Mỹ cũng lấy tên này).

Tại Washington, Kennedy quyết định Mỹ hóa cuộc chiến Việt Nam, yêu cầu CIA tăng cường chiến dịch đột nhập phía bên kia DMZ. Một đêm tối, quân báo VNCH nhảy dù vào chiến tuyến thuộc kiểm soát Bắc Việt và được đón chào bằng loạt súng liên thanh. Cuối cùng, cho đến khi từ giã Nhà Trắng đột ngột bởi bị ám sát, John F. Kennedy vẫn không hài lòng kết quả cụ thể nào của quân báo Mỹ tại chiến trường Việt Nam…

Giữa năm 1964, đã có 16.000 lính Mỹ tại Việt Nam và cuộc chiến bắt đầu ngốn 1,5 triệu USD/ngày. Hủy bỏ kế hoạch trà trộn vào Bắc Việt của CIA, tân Tổng thống Lyndon B. Johnson yêu cầu bộ tổng tham mưu Mỹ phác thảo chiến dịch nặng tay hơn, đủ mạnh để buộc Bắc Việt ngưng cuộc chiến du kích tại miền Nam. 

Chiến dịch OPLAN 34A ra đời, một kịch bản phối hợp giữa CIA và Lầu Năm Góc, một kế hoạch "hoàn toàn vô giá trị" - như thú nhận của (nguyên) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara sau này. Trong khi đó, hoạt động quân báo Mỹ vẫn triển khai.

Đầu năm 1964, số lính-sĩ quan quân báo Mỹ tại Việt Nam đã lên đến 1.747 người, trong đó 300 người đóng ở Tân Sơn Nhất. Ngoài ra, còn có nhóm quân báo thủy quân lục chiến đóng ở Pleiku và quân báo không quân đóng ở Đà Nẵng. 

Một mạng kết nối các điểm nghe lén được thiết lập bí mật ở Nha Trang, Cần Thơ, Biên Hòa, Pleiku, Đà Nẵng và Ban Mê Thuột - tất cả đều được đấu liên lạc trực tiếp với tổng hành dinh NSA tại Mỹ qua một sợi cáp ngầm dưới biển kéo từ Nam Việt Nam đến Philippines. Mật danh Wetwash, sợi cáp này còn truyền về bộ chỉ huy NSA các thông điệp phức tạp vượt quá khả năng giải mã của quân báo Mỹ tại Sài Gòn…

Theo tác giả James Bamford trong Body of Secrets, một báo cáo tuyệt mật NSA từng ghi: "Một bức tranh rõ ràng và thậm chí mang tính đe dọa về sự thành công của quân báo Việt Cộng chống lại kỹ thuật quân báo phe đồng minh (ở đây hiểu là Mỹ) đã dần xuất hiện". 

Phòng xử lý thông tin dữ liệu SpectrumData đặt tại Núi Đất (Mộc Hóa) đầu thập niên 1970.

Cuối thập niên 1960, một số vị trí nghe lén của quân báo Việt Nam bị phát hiện. "Đánh giá thiết bị tịch thu được đã cho thấy đơn vị quân báo kẻ thù có thể nghe hầu như tất cả liên lạc Morse của Mỹ và đồng minh. Tài liệu cho thấy đối phương đã rất am hiểu kỹ thuật quân báo…".

Tình báo Mỹ đánh giá rằng Bắc Việt có khoảng 5.000 chuyên viên bắt tín hiệu và "kẻ thù đang thực hiện một chiến dịch quân báo cực kỳ phức tạp nhắm trực tiếp vào Mỹ và lực lượng đồng minh tại Nam Việt Nam". Hậu quả của lỗ hỗng quân báo Mỹ và kỹ thuật quân báo Bắc Việt đã trở thành vấn đề nghiêm trọng. 

Tướng Charles R. Myers (sĩ quan quân báo từng làm việc tại Việt Nam) kể rằng "kẻ thù thường biến mất khỏi vị trí nào đó trước khi một kế hoạch chiến dịch oanh tạc định sẵn của Mỹ tiến hành" và "B-52 thường xuyên dội bom xuống các địa điểm không người mà trước đó quân báo Mỹ từng cung cấp thông tin về sự tập trung đông của Việt Cộng".

Theo vài phân tích mật của NSA thời điểm đó, một trong những nguyên nhân khiến quân báo Mỹ thất bại là sự rò rỉ từ quân báo VNCH. Đó là chưa kể việc quân báo Việt Cộng học được cách giải mã từ chính những thiết bị quân báo Mỹ mà họ tịch thu được, đặc biệt thiết bị TPHZ-3 - có thể nghe 30 line điện thoại cùng một lúc. 

Năm 1967, từ thiết bị này, quân báo Mỹ đã nghe được 6.606.539 cuộc điện đàm vô tuyến và hơn 500.000 điện đàm điện thoại. Trong một lần, TPHZ-3 đã cứu được mạng tướng Creighton W. Abrams (phó tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam). Khi Abrams chuẩn bị lên trực thăng từ Sài Gòn ra Phú Bài, quân báo Việt Cộng đã lập tức truyền tín hiệu báo cáo trung tâm về lịch trình của Abrams. Tuy nhiên, lần này, TPHZ-3 đã bắt được tín hiệu liên lạc trên; nếu không, Abrams đã thiệt mạng.

Quân báo Việt Cộng còn tung tin giả bằng cách ngụy tạo thông điệp và "sơ hở" gửi truyền; đồng thời dụ quân báo Mỹ truyền thông tin nhạy cảm để họ bắt được! NSA gọi đây là kỹ thuật "sự lừa phỉnh viễn thông mô phỏng" (ICD). Bằng ICD, Việt Cộng đã bắn ít nhất 8 trực thăng Mỹ trong một chiến dịch. ICD cũng được thể hiện ở hình thức khác. 

Trong một vụ đánh ở căn cứ không quân Mỹ tại Đà Nẵng, du kích Việt Cộng đầu tiên giết chết lính canh Mỹ rồi dùng điện thoại "báo động" rằng góc mé xa căn cứ "đang bị cộng quân tấn công". Toán lính canh Mỹ lập tức được điều động đến khu vực "đang giao tranh". 

Hậu quả, an ninh căn cứ bị bỏ lỏng và căn cứ bị bộ đội tấn công bất ngờ. Lần đó, trị giá số máy bay Mỹ bị phá hỏng lên đến 15 triệu USD. Lần khác, Việt Cộng dùng tần số liên lạc trực thăng để giả giọng trung tâm chỉ huy, yêu cầu trực thăng chuyển hướng bay và cuối cùng nó bị bắn cháy. 

Theo cùng cách, "có vô số lần mà máy bay Mỹ bị "hướng dẫn" dội bom vào chính đồng đội họ; và nhiều lần khác, du kích có thể ngăn được cuộc tấn công của Mỹ bằng cách tạo ra mệnh lệnh ngừng bắn giả" - James Bamford viết.

Mạnh Kim
.
.
.