Thế giới 2008: Quá nhiều biến động
"Quý vị chờ đợi gì? Đất nước vấp phải những vấn đề kinh tế nghiêm trọng, mà tôi lại là người lãnh đạo bộ máy điều hành trong giai đoạn khủng hoảng. Liệu dân chúng có thích tình cảnh hiện nay trong nền kinh tế không? Không! Bản thân tôi cũng không thích.
Tôi đứng đầu Nhà Trắng trong thời chiến. Tôi vấp phải suy thoái trong kinh tế. Trong nhiệm kỳ Tổng thống của tôi đã có không ít những thách thức to lớn. Nhưng điều thực sự quan trọng là, tôi không bao giờ chạy theo sự được ưa chuộng nếu trái với lòng mình" - vị Tổng thống Mỹ sắp mãn nhiệm George Bush đã thổ lộ như thế trong bài trả lời phỏng vấn kênh truyền hình Fox News ngày 17/12/2008.
Thực ra, đây không phải là tâm sự riêng của một mình ông Bush trong giai đoạn rất nhạy cảm và gay cấn hiện nay của nền chính trị quốc tế trước bóng ma một cuộc khủng hoảng tài chính có thể sẽ rất nặng nề trên quy mô toàn cầu, ít có nhà lãnh đạo quốc gia nào có thể tự tin nói rằng công việc của họ thực sự tốt đến mức rất được lòng dân.
Có điều, những nhà lãnh đạo chân chính luôn biết cách vừa ổn định được hiện tại vừa tìm cách vun đắp cho những cơ hội phát triển bền vững trong tương lai chứ không đơn thuần chỉ chạy theo các tỉ lệ thăm dò xã hội tức thì mà hy sinh những quyết định khó khăn nhưng cần thiết để bảo vệ lợi ích chân chính của quốc gia mình.
Trong tâm thế như đã trình bày, ông Bush hiển nhiên là không thấy bất ngờ với kết quả cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ ngày 4/11/2008. Tuy thế, chiến thắng của ứng cử viên đảng Dân chủ Barack Obama còn có ý nghĩa lớn hơn là một sự tất nhiên, vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử hơn hai trăm năm của nước Mỹ, một chính trị gia da đen đã có cơ hội bước vào làm chủ Nhà Trắng một cách tự tin và hồ hởi như thế.
Và ông Obama không chỉ là đại diện cho một sắc tộc mà còn là biểu tượng cho khát vọng thay đổi của nhân dân Mỹ. Những lá phiếu bỏ cho ông Obama chứng tỏ sự sốt sắng tới nóng ruột của các cử tri Mỹ khi họ đang cảm thấy đất nước mình đi không chuẩn hướng cả trong các chính sách đối nội lẫn đối ngoại.
Với vị Tổng thống Mỹ mới, nhân loại cũng có thể trông chờ vào những bước biến đổi lớn ở Washington, dẫu rằng, tất cả đều biết rằng, không có phép mầu nào có thể xua ngay được những đám mây u ám đang che phủ bầu trời thế giới hiện nay. Không ngẫu nhiên mà tạp chí Time vừa bình chọn ông Obama là nhân vật tiêu biểu của năm 2008 (năm ngoái, danh hiệu này đã được dành cho Thủ tướng Nga Vladimir Putin, lúc đó đang là Tổng thống).
Cũng trong năm 2008, việc ông Dmitri Medvedev được bầu làm Tổng thống Nga trong cuộc bầu cử tháng 3 vừa qua và nguyên Tổng thống Putin đồng ý nhận chức lãnh đạo chính phủ Nga cũng có thể coi là một trong những sự kiện nổi bật của chính trường thế giới. Điều đó có nghĩa là, đường lối đối nội và đối ngoại mà nước Nga đã chọn từ đầu thế kỷ XXI sẽ được tiếp tục trong tương lai.
Thực tế cho thấy, đại bộ phận các nước văn minh đều cần một nước Nga đủ mạnh, thậm chí hùng hậu để cân bằng lại một cách xác đáng bàn cờ chính trị quốc tế. Với tiềm năng kinh tế chính trị của mình, Moskva sẽ không chịu để mình bị coi ở "thê đội hai" trên bàn cờ quốc tế và khôn ngoan và hữu lợi nhất trong các mối quan hệ với Nga là hòa dịu và hợp tác.
Những quốc gia trong không gian Liên Xô cũ đã lầm tưởng rằng có thể lơ láng giềng gần, dụ cánh hẩu xa đã và đang phải trả giá cho những lầm lẫn đó. Một thế giới có nhiều cực đòi hỏi các nước không hùng hậu vật lực phải biết cách cân bằng trong các mối quan hệ chứ không thể thiên vị cảm tính với bất cứ bên nào. Cuộc chiến bất ngờ ở Nam Ossetia cuối tháng 8-2008 là một thí dụ đau đớn mà những ảnh hưởng tiêu cực của nó sẽ lâu dài và sâu sắc đối với các bên liên quan.
Đồng thời, thế giới cũng cần thêm nhiều quốc gia hùng mạnh để tránh tình trạng áp đặt từ phía một số cường quốc trong các công chuyện chung. Trong bối cảnh đó, hoạt động của tổ chức quốc tế là Liên hợp quốc cũng cần được cải tiến mạnh mẽ hơn nữa…
Thế giới hôm nay không thể đơn cực và thực ra cũng không có một quốc gia nào có thể tự mình "tự tung tự tác" vận mệnh của các dân tộc khác. Những bế tắc trong cuộc chiến chống khủng bố, đặc biệt là ở Iraq và Afghanistan, chứng tỏ, những lựa chọn của phương Tây trong cuộc đối đầu với các thế lực cực đoan mang màu sắc tôn giáo đã không chuẩn và vì thế, sẽ càng ngày càng đi vào ngõ cụt.
Những "hạt giống dân chủ" mà phương Tây muốn gieo vào lòng đất cổ kính của những nền văn minh khác đã không mang lại những hoa trái trông đợi ngược lại, trong nhiều thời điểm, còn làm rắc rối hơn những mâu thuẫn nội tại ở những nơi không may bị lọt vào "mắt xanh" (?!) của họ.
Theo thỏa thuận mới đây nhất, Lầu Năm Góc sẽ rút quân ra khỏi Iraq đến năm 2011, nhưng trong vòng 12 đến 18 tháng tới, Washignton vẫn sẽ tiếp thêm hơn 20 nghìn quân cho chiến trường Afghanistan... Những chi phí chiến sự như thế (cả tiền tài lẫn nhân mạng) không thể không dần dà làm xói mòn sức mạnh của siêu cường duy nhất hiện nay và theo dự đoán của nhiều chuyên gia, trong tương lai gần, cụ thể là tới năm 2025, Washington sẽ không còn giữ được vai trò chủ đạo trên trường quốc tế…
Một điều oái oăm là, mặc dầu nước Mỹ đổ nhiều tiền của vào các cuộc chiến chống khủng bố như thế nhưng điều này lại không làm cho người dân ở các nước khác có thêm cảm tình với
Cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra trên thế giới đã là tâm điểm nổi bật nhất trong toàn cảnh quốc tế năm 2008, một năm đã diễn ra nhiều biến động lớn. Không còn nghi ngờ gì nữa, châm lửa cho "trận cháy rừng" mang tính toàn cầu này chính là cuộc khủng hoảng cho vay tín dụng nhà ở dưới chuẩn ở Mỹ.
Chỉ tính riêng trên thị trường bất động sản Mỹ, trong năm 2008, do giá nhà cửa không tuột giảm nên thiệt hại ước tính lên tới hàng ngàn tỉ USD. Hiện vẫn rất khó tiên liệu được mức độ của "thảm họa" nhưng không một quốc gia nào có thể nghĩ rằng mình sẽ tránh được ảnh hưởng tiêu cực ít nhiều trước "đợt sóng thứ chín" của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu.
Ngay tại nước Mỹ, tâm trạng người Mỹ phải nói là rất bi quan. Theo thống kê của Viện Gallup, hai phần ba số người Mỹ được hỏi ý kiến tin chắc rằng, khủng hoảng kinh tế sẽ kéo dài từ hai năm trở lên. Chỉ có 3% cho rằng khủng hoảng kinh tế sẽ chấm dứt sau nửa năm nữa…
Trong bối cảnh đó đang vang lên ngày một rõ hơn những nghi ngại về chính quá trình toàn cầu hóa ở ngay nước Mỹ. Nhà kinh tế học nổi tiếng Josh Bivens trong cuốn sách với tên gọi rất đậm ý nghĩa: "Tất cả đều đắc lợi, chỉ trừ đại đa số trong chúng ta" (Everybody Wins, Except for Most of Us. What conomics Teaches About Globalization), đã chỉ ra rằng, trong ba thập niên gần đây xuất hiện hai quá trình gắn kết chặt chẽ với nhau: từ một góc độ, Mỹ càng ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới nhìn chung là "nghèo" hơn so với mình; nhìn từ góc độ khác, tại Mỹ đã tăng thêm khoảng cách giữa những người giàu và những người nghèo nhất.
Các chuyên gia hiện vẫn tranh luận với nhau về việc, liệu toàn cầu hóa có lỗi như thế nào trong việc nới rộng sự bất bình đẳng đó và đa phần cho rằng, tỉ lệ "phạm tội" của toàn cầu hóa là ở mức 10-40%...
Cũng theo ông Bivens, những lời khẳng định của các nhà kinh tế học, các nhà tài chính cũng như các chính trị gia về việc toàn cầu hóa làm tăng thu nhập kinh tế quốc dân và phúc lộc cho các công dân thường lại không được củng cố bằng các sự kiện thực tế. Vấn đề là ở chỗ, thực sự thì thu nhập tăng nhưng nó lại bị phân chia một cách không công bằng đến mức không thể coi việc thống kê đó là khách quan: rốt cuộc là nước chảy chỗ trũng, người nghèo lại càng nghèo hơn, người giàu thì cứ giàu hơn.
Ông Bivens cho rằng, ngay từ đầu tiến trình toàn cầu hóa đã diễn ra bất chấp ước muốn của các quốc gia và tới bây giờ thì các chính quyền các nước đã hoàn toàn đánh mất quyền kiểm soát đối với nó. Vai trò chủ đạo đang nằm trong tay các thể chế thương mại, thường là không mấy quan tâm đến quyền lợi của các công dân vì luôn phải say mê đi tìm kiếm các thị trường mới, lợi nhuận mới và những cơ hội mới.
Chính vì thế nên trên thế giới hiện có rất ít người cảm thấy mình đang được an toàn - lúc nào cũng có nguy cơ là công ty mà họ đang làm thuê sẽ tìm được những nhân công giá rẻ hơn và ít đòi hỏi hơn ở những nước khác. Thoạt tiên những vấn đề như thế chỉ đến với các cư dân ở các nước giàu, nhưng rồi chúng lại đụng tới cả những quốc gia "nghèo" hơn….
Ông Bivens cho rằng, toàn cầu hóa ảnh hưởng tiêu cực tới các chương trình trợ cấp xã hội đang tồn tại ở tất cả các nước…
Tất nhiên, không ai phủ nhận sự tất yếu của toàn cầu hoá, nhưng nếu không biết sắp xếp các công chuyện nội bộ cho ổn thoả và công bằng, ảnh hưởng của toàn cầu hóa sẽ nhiều hệ lụy hơn là lợi lộc. Bài học đó rất dễ trở thành nhỡn tiền đối với những nước "bé bát gạo, ít quan tiền" trong cuộc chơi với các "đại gia" trong ván bài "toàn cầu hóa"
