Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ: Khó vào, khó ra
Để trở thành thẩm pháp Tòa án Tối cao Hoa Kỳ không nhất thiết phải là luật gia, thậm chí cũng không cần phải có bằng đại học nữa. Tuy nhiên, các ứng cử viên vào cương vị này phải trải qua một quá trình kiểm tra cực kỳ ngặt nghèo - tất cả những phẩm chất chuyên môn và cá nhân đều được phân tích kỹ lưỡng và các cơ quan an ninh ra sức "bới lông tìm vết" trong quá khứ của họ.
Hiến pháp Hoa Kỳ ghi rõ những yêu cầu về độ tuổi, nơi cư trú và quốc tịch của các ứng cử viên Tổng thống và các nghị sĩ. Tuy nhiên, đối với các thẩm phán của Tòa án Tối cao thì Hiến pháp lại không có những yêu cầu tương tự, ngoại trừ quy định: ứng cử viên nào cũng phải được Tổng thống đề cử và được đa số trong Thượng viện phê chuẩn. Kinh nghiệm xét xử, trình độ chuyên môn và thậm chí cả học vấn tư pháp về mặt hình thức cũng không phải là yêu cầu bắt buộc đối với các ứng cử viên (tuy thế, các ứng cử viên vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ luôn luôn là những luật gia).
Trong đại đa số các trường hợp, các Tổng thống Mỹ đều đề cử vào Tòa án Tối cao những người cùng đảng với mình hay những luật gia tán đồng quan điểm của ông chủ Nhà Trắng trong các vấn đề chủ chốt. Nhiều ứng cử viên tự bản thân họ cũng là những nhân vật chính trị có sức nặng.
Thí dụ, năm 1921, Tổng thống Warren Harding đã đề cử cựu Tổng thống William Taft làm Chánh án Tòa án Tối cao. Trong số các thẩm phán cũng có khá nhiều các cựu Thống đốc, cựu nghị sĩ và những nhà hoạt động xã hội danh giá. Trong những năm 60 của thế kỷ trước, đã từng diễn ra những cuộc thảo luận nghiêm túc về khả năng đề cử nhà báo lừng lẫy vào loại hàng đầu nước Mỹ Walter Lippmann làm thẩm pháp Tòa án Tối cao. Chính nhà báo này đã đưa thuật ngữ "stereotype" (khuôn sáo) vào đời sống báo chí...
![]() |
Trong khoảng nửa thế kỷ gần đây không có các nhân vật chính trị nổi bật trong thành phần Tòa án Tối cao Hoa Kỳ - cơ quan này theo thông lệ thường thâu nạp chủ yếu là các luật gia nổi tiếng, từng có kinh nghiệm xét xử. Tuy nhiên, các con số thống kê lại cho thấy, trong suốt thời gian tồn tại của mình, chỉ có khoảng một nửa số thành viên Tòa án Tối cao là luật gia.
Hơn nữa, "luật gia", đó là một khái niệm rất rộng rãi. Trở thành thẩm phán của Tòa án Tối cao đã là những vị thẩm phán ở các cấp tòa án thấp hơn, các luật sư, các công tố viên và các học giả luật học... Còn đội hình hiện nay của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ toàn là những thẩm phán mà trước khi được vào đây cũng đã là những thẩm phán ở các cấp tòa án thấp hơn.
Vai trò quan trọng trong kiểm tra nhân thân các ứng cử viên thuộc về các tổ chức xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Các phóng viên Mỹ rất giỏi trong chuyện "đào bới" các tình tiết tế nhị trong đời sống của các chính trị gia. Năm 1987, ứng cử viên Douglas Ginsburg đã phải trở thành nạn nhân của sự thóc mách trong giới báo chí. Các phóng viên đã xác định được rằng, thời trẻ, ứng cử viên Douglas Ginsburg từng hút cần sa - sau phát giác này, ông Ginsburg đã phải xin rút khỏi cuộc chạy vào Tòa án Tối cao.
Cục Điều tra Liên bang (FBI) có nhiệm vụ phân tích các mối quan hệ của các ứng cử viên trong gia đình, với xóm giềng, với các đồng nghiệp (để làm việc này phải tiến hành các cuộc tiếp xúc và trò chuyện với họ; quá khứ chính trị và nghề nghiệp... FBI được phép kiểm tra tài khoản và bảng kê khai thuế của các ứng cử viên. Đánh giá của FBI dựa trên 4 nguyên tắc: "tính cách" (sự trung thực và đáng tin cậy của ứng cử viên); "cộng sự" (ứng cử viên kết bạn với những ai và quen biết những ai); "uy tín" (giữa giới chuyên môn và rộng rãi trong xã hội) và lòng trung thành (thái độ của ứng cử viên đối với chế độ xã hội đang tồn tại ở Mỹ).
Bà Sonia Sotomayor mà Tổng thống Barack Obama đề cử vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cũng đã bị kiểm tra như thế. Cuộc kiểm tra này được ghi nhận bằng một vụ tai tiếng: trong quá khứ có lần bà Sotomayor đã buột miệng nói ra một câu là "thẩm phán là phụ nữ gốc châu Mỹ La tinh có khả năng đưa ra những quyết định anh minh hơn thẩm phán là đàn ông da trắng". Những người Cộng hòa đã ngay lập tức lên tiếng buộc cho bà Sotomayor tội phân biệt chủng tộc và tội đã theo quan niệm rằng có thể diễn giải luật pháp theo những cái nhìn cá nhân của các thẩm phán. Mặc dầu thế ngày 6/8 vừa qua, Thượng viện Mỹ vẫn phê chuẩn bà Sotomayor làm Thẩm phán Tòa án Tối cao với 68 phiếu thuận và 31 phiếu chống.
Đồng thời với những cuộc kiểm tra nói trên, các ứng cử viên vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ còn phải chịu sự sàng lọc của Ủy ban Tư pháp Thượng viện Mỹ. Ủy ban này xem xét tiểu sử, những bài báo đã in, những mối quan hệ với giới doanh gia và chính trị gia (để loại trừ cái gọi là "mâu thuẫn các lợi ích") . Ủy ban cũng chú ý tới những ý tưởng mà trước đó ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao từng thể hiện. Năm 1969 chính Ủy ban Tư pháp Thượng viện Mỹ đã khai tử cơ hội của ứng cử viên Clement Haynsworth với lý do là trước đó hai thập niên, có một lần ông này đã lỡ lời khẳng định sự hơn hẳn của người da trắng trước các sắc tộc khác.
Đồng thời với những thủ tục trên, Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ cũng cử ra một ủy ban gồm 15 tình nguyện viên để phân tích các bản án mà ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao từng đưa ra và bằng cách này, xác định chất lượng hoạt động chuyên môn của ứng cử viên. Thường thì Hiệp hội đưa ra ba mức đánh giá: "đã được chuẩn bị tốt cho công việc đang xem xét", "đã được chuẩn bị" và "được chuẩn bị chưa đủ".
Ảnh hưởng của Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ tới quá trình phê chuẩn các ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao hiện nay không được cao như trong quá khứ. Vấn đề là ở chỗ: năm 1987 ý kiến của các thành viên ủy ban đã bị phân liệt rất lớn: 11 người tuyên bố rằng ứng cử viên Robert Bork "đã được chuẩn bị tốt cho công việc đang xem xét", còn 4 người lại chọn phương án "được chuẩn bị chưa đủ". Bốn thành viên có ý kiến khác đó đã bị phê phán về tội đã đưa ra một quyết định mang tính chính trị. Ông Bork đã không thể trở thành thẩm phán nhưng do những lý do khác chứ không phải vì "được chuẩn bị chưa đủ".
Từ năm 2001, Hiệp hội Thẩm phán Hoa Kỳ hay biết tên họ ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao cùng lúc với mọi người dân Mỹ khác. Tuy nhiên, ý kiến của các chuyên gia tư pháp vẫn tiếp tục có vai trò quan trọng trong số phận của các ứng cử viên.
Các số liệu thống kê lịch sử cho thấy, trong số 158 ứng cử viên được các Tổng thống Mỹ đề cử vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, chỉ có 28 người không cầu được ước thấy - một số người đã tự bỏ cuộc trước khi có phiên họp phê chuẩn của Thượng viện. Trong toàn bộ lịch sử nước Mỹ đã có 110 người được ngồi ở ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao.
Để có được một Thẩm phán mới cho Tòa án Tối cao, những người ủng hộ ứng cử viên phải tạo ra được một đa số trong Thượng viện (có tất cả là 100 thượng nghị sĩ nên ứng cử viên cần nhận được ít nhất là 51 phiếu ủng hộ thì mới đạt được mục đích).
Hiến pháp Mỹ không đặt ra những tiêu chí ủng hộ hay bác bỏ các ứng cử viên Tòa án Tối cao đối với các thượng nghị sĩ. Vì thế, họ được quyền bỏ phiếu theo quan điểm cá nhân của họ. Trong quá khứ đã không chỉ một lần Thượng viện Mỹ bác bỏ sự đề cử của các Tổng thống Mỹ.
Nạn nhân đầu tiên là John Rutledge: năm 1795, ông này đã bị Thượng viện không phê chuẩn vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao. Lý do là vì năm 1794, ông Rutledge đã phê phán dữ dội hòa ước đã ký với nước Anh.
Người giữ kỷ lục về các thất bại trong những nỗ lực đưa ứng cử viên của mình trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao là Tổng thống John Tyler: trong hai năm 1844-1845, ông này đã đưa ra 6 ứng cử viên nhưng chỉ có độc một người được Thượng viện phê chuẩn. Lý do của những lần bác bỏ rất khác nhau: đó có thể là sự hoài nghi của các thượng nghị sĩ đối với các phẩm chất chuyên môn của các ứng cử viên hay các quan điểm của họ. Thêm vào đó, vai trò quan trọng còn thuộc về tình hình chính trị cụ thể ở thời điểm đó và cán cân lực lượng trong thượng tầng chính quyền Mỹ.
Thủ tục xem xét các ứng cử viên vào ghế Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thường xuyên bị thay đổi để rồi những thay đổi đó trở thành truyền thống ở
Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, các thẩm phán Tòa án Tối cao sẽ được phục vụ trọn đời cho tới khi chết nếu "ứng xử hoàn mỹ". Thông thường, họ đạt được vị thế này ở tuổi không còn trẻ nữa - người trẻ nhất ở thời điểm được phê chuẩn là Joseph Story (năm 1811), ở tuổi 39. Tính trung bình, một thẩm phán làm việc ở Tòa án Tối cao khoảng 15 năm.
Thẩm phán Oliver Douglas đã có thời gian ngồi trên ghế này ở mức kỷ lục - 36 năm 6 tháng (từ năm 1939 tới năm 1975). Năm 1932, vị thẩm phán cao niên nhất Oliver Holmes đã nghỉ hưu khi ông ở tuổi 90. Không ai rõ những thẩm phán cao tuổi như thế với không ít những đau ốm có thể thực thi chức trách của mình hiệu quả đến đâu. Điều này rất quan trọng vì Tòa án Tối cao chỉ làm việc với thành phần đầy đủ. Bởi thế, nếu có một ai đó trong số các thẩm phán lâm bệnh thì mặc nhiên sẽ làm đình trệ hoạt động của toàn bộ Tòa án Tối cao.
Về mặt nguyên tắc, có thể đình chỉ chức vụ Thẩm phán Tòa án Tối cao nhưng trong thực tế, việc này mới chỉ được tiến hành một lần mà lại không đạt kết quả. Chuyện xảy ra vào năm 1805, khi một thẩm phán bị đứng trước nguy cơ mất ghế theo những nguyên nhân chính trị. Thế nhưng, trong lúc bỏ phiếu ở Thượng viện, các đối thủ chính trị của vị thẩm phán trên đã bị thất bại vì trong số những người ủng hộ vị thẩm phán đó có cả các đồng chí của nhóm đối thủ trên bởi họ cho rằng, sự độc lập của các thẩm phán còn quan trọng hơn cả lợi ích đảng phái.
Trong giai đoạn từ năm 1933 tới năm 1936, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng nhiều đạo luật quan trọng mà Tổng thống Franklin Roosevelt khởi xướng trong giai đoạn Đại suy thoái kinh tế là không hợp hiến. Năm 1936, ông Roosevelt tái đắc cử Tổng thống và những người ủng hộ ông đã chiếm đa số tại cả hai viện của Quốc hội Mỹ. Ông Roosevelt định giải quyết vấn đề Tòa án Tối cao một cách “gọn ghẽ” bằng việc đưa thêm vào thành phần của nó 6 thành viên mới có thể giúp làm nghiêng cán cân về phía có lợi cho ông. Để đạt được mục đích này, chỉ cần đưa thêm một số thay đổi vào đạo luật về Tòa án Tối cao. Tuy nhiên, kế hoạch đó đã bị cả Quốc hội lẫn dư luận xã hội Mỹ bác bỏ. Bất chấp việc chính sách kinh tế của Tổng thống

