Phòng tiếp khách nhà 30 Hoàng Diệu
Chỉ khi sống trong thời bình, mọi người mới thực sự có phòng khách, và lớn lên, tôi lại hay lui tới một kiểu salon khác - đó là phòng khách ở ngôi nhà chị cả tôi và anh Văn... Sau hòa bình 1954, ngôi nhà của anh Văn và chị Hà ở lại có lính gác. Vốn quen tự do, tôi đã nói đùa với mọi người rằng đến cửa, mình thử rút một chiếc guốc ném ra như ném lựu đạn, xem thử xem sao, thật khác với thời chiến! Người ta nói với tôi rằng ngôi nhà đó là nơi tướng Chaland ở trước kia.
Điềm Phùng Thị cho tôi biết biệt thự ấy được thiết kế bởi một vị kiến trúc sư Pháp có tên tuổi. Ông này (vẫn còn sống vào những năm 50) nói với chị rằng ông rất vui khi biết đấy là tổng hành dinh của tướng Giáp. Trong một thời gian dài, anh Văn tiếp khách chủ yếu ở nhà 30 Hoàng Diệu. Những đồng bào cơ sở cách mạng của chiến khu Việt Bắc địu đến phòng salon “Tây” những món ăn của rừng già mà anh vẫn được nuôi dưỡng từ thời ở nơi “sắc chàm pha màu gió...”: nấm tai mèo, cơm lam, và cả đôi đũa làm bằng gỗ cây kim giao, khi đi công tác bí mật, nếu nhúng vào thức ăn có thuốc độc, nó sẽ sủi lên...
Trong một lần đi thăm cơ sở cách mạng Pác Bó năm 1989, anh Hoàng Huân - thư ký của anh Văn - kể lại khi cụ Lành ôm lấy tay anh Văn hỏi: “Có còn nhớ không?”, anh Văn đáp liền: “Còn nhớ lắm! Tôi ăn cơm của người Tày, của vùng cao, tôi không thể nào quên được. Đây là quê hương tôi(...). Người Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 Thu Sơn, mái đầu cũng đã bạc trắng, người đã đóng giả làm quan quản dẫn đầu đội quân hóa trang làm lính dõng đột nhập vào đồn Phai Khát, cướp súng giặc, diệt gọn đồn, lưng đã hơi còng, đã nghỉ hưu về quê làm rẫy, nay gặp lại anh Văn, cái bắt tay thật lâu, thật chặt, ngỡ như không rời nhau được. Anh Văn chỉ thốt lên được câu: “Thu Sơn đầu đã bạc đến thế ư?”...
Phai Khát là nơi anh Văn gặp lại những chiến sĩ cách mạng đầu tiên thời “bóng tối” làm nên chiến thắng đầu tiên ngày 25/12/1944, mở đầu cho trang sử trăm trận trăm thắng của quân đội Việt Nam... Bởi vậy, anh Văn xúc động kể tiếp những trận đánh: “Nà Ngần cũng thắng, đánh thắng tiếp Đồng Mu... Từ đó cho đến ngày toàn thắng, anh Bàn Tài Đoàn có câu thơ rất hay: “Lấy lá xây nên lâu đài”... Xem lời kể của anh Hoàng Huân, tôi lại liên tưởng tới một nét đặc biệt bất ngờ ở anh Văn: xuất thân là nhà giáo dạy Sử, nhưng anh đặc biệt nhớ và thích những câu thơ, những lời bài hát hay...
Một trong những thi sĩ đầu tiên của thế hệ sau 1954 đã được mời tới gặp riêng anh Văn và chị Hà ở một thời điểm anh Văn rất bận về đại sự là tác giả của Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Phạm Tiến Duật đã xúc động kể lại cho tôi nghe về bữa cơm thân mật ấy... Cho tới hơn 50 năm sau, gần đây, có lần Trần Tiến cùng tôi đến thăm anh Văn. Nhạc sĩ muốn xin chụp một bức ảnh Đại tướng ngồi chơi đàn piano.
Quả là vào những năm 60 - 70, bác sĩ đã yêu cầu anh Văn học đàn, coi như một liệu pháp chống stress. Đó là một thời kỳ căng thẳng của chiến tranh, nhưng anh Văn đã học đàn rất đều đặn, thậm chí cô giáo dạy đàn (vợ nhà văn Đào Vũ) còn khen là anh rất có năng khiếu!
![]() |
| Đại tướng Võ Nguyễn Giáp chơi đàn cùng nhạc sĩ Trần Tiến. |
Còn ngày Trần Tiến đề nghị anh Văn chơi đàn, ngày 3/9/2007, tôi nhớ anh Văn cười và thú thực rằng đã từ lâu anh không ngồi bên cây đàn nữa. Với anh, chơi đàn là một nghĩa vụ thời chiến, không phải là “noblesse oblige”, không phải vì phong cách của cao nhân(?) mà vẫn là vì “nghĩa vụ đòi hỏi”. Đổi lại, anh Văn yêu cầu Trần Tiến hát về Trường Sơn. Mãi mãi là Trường Sơn, dẫu xa cách lâu lắm rồi. Anh nói anh luôn muốn được nghe đọc thơ và hát về Trường Sơn.
Tôi nhớ lúc hát đến bài thứ hai, Trần Tiến phải dừng lại vì một cơn ho rũ rượi. Anh Văn không biết rằng đêm hôm trước, Tiến đã bị đột ngột lên cơn đau thần kinh tọa, nhưng đến tiết mục của mình, Tiến đã phải bò lên sân khấu, sau lớp màn nhung để xuất hiện rất “hiên ngang”, đứng thẳng mà hát trên sân khấu, trước công chúng...
Đã nhận được cái hẹn gặp Đại tướng, sáng mồng 3, Trần Tiến cũng phải nén cơn đau, “hiên ngang” bước vào salon của nhà 30 Hoàng Diệu! Mấy đứa con cháu chỉ mải nghe đến nỗi Trần Tiến phải nhắc: “Cho anh xin cốc nước”... để rồi dứt cơn ho, lại hát tiếp. Rời nhà Đại tướng, Tiến phải bay vào Sài Gòn ngay để bấm huyệt!
Nhưng với anh Văn, dẫu sao, Phạm Tiến Duật, Trần Tiến... cũng là những người của thế hệ trẻ chỉ gặp gỡ qua nghệ thuật... Như tôi đã nói trên, tôi thấy giữa anh Giáp và những người cộng sự, ngay ở ngoài lĩnh vực vũ trang, không chỉ đơn giản là sự gắn bó về lý tưởng, mà giữa họ, là cả một tình bạn chung thủy, trong sáng hiếm có.
Thậm chí có người đã nói là cuộc cách mạng của ta đã làm xuất hiện hai anh Văn: Võ Nguyên Giáp và Văn Cao (cũng có lúc được gọi tên tắt là Văn). Ở thế hệ chúng tôi, tất cả có lẽ đều biết Văn Cao qua bài Tiến Quân ca trước khi trông thấy người. Riêng tôi, tôi đã được biết chị Thúy Băng - bạn học của chị Lê tôi từ thời Cách mạng tháng Tám. Tôi nhớ hình ảnh cô gái nền nã bước từ trên chiếc xe tay nhà (tức xe riêng) xuống cửa trường.
Chị Lê tôi nghịch như quỷ bảo với tôi rằng: “Con Thúy Băng nó bảo ai nghe thấy bài hát anh Văn của tớ, đều phải đứng nghiêm.” Thực ra, hồi đó, tôi chưa thích Tiến Quân ca bằng Thiên Thai, Trương Chi, Đàn chim Việt, Bắc Sơn, Suối mơ... Tôi cho rằng đó là những tuyệt khúc vĩnh hằng. Tản cư vào Thanh Hóa, nhìn thấy núi Nưa, tôi vẫn nghe văng vẳng “Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió...”. Nhìn thấy một tháp chuông nhà thờ, tôi nghe ngân nga “Làng tôi xanh bóng tre...”. Sông Lô thật, sông Lô trải dài trong ký ức tôi lại là dòng “Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u/ Thu du bến sóng vàng từng làm mờ biếc một màu khói thu”... Thậm chí khi phải xa nhà đi học ở Trường Tân Trào, vắt vẻo leo lên cây cà phê vọng về miền xuôi, tôi không thấy lời hát nào diễn tả nổi tâm trạng của tôi bằng nhạc điệu của những câu “Nơi ấy có con đường tắm nắng vàng tươi/ Bờ tre nhà tranh vách mới/ Nơi ấy có con đường mênh mông ngát hương”... Bài ấy tôi vẫn hát mà không biết của nhạc sĩ nào.
Cũng như một bài về Bác Hồ, mà tôi vẫn tự hỏi cho đến gần đây (vì lúc ấy chưa biết tên nhạc sĩ): Sao lại có thể viết về Bác tự nhiên và thật đến thế? “Người về mang tới nguồn vui...”. Với tôi, Thiên Thai và Trương Chi là những tuyệt tác phi thời gian. Bởi thuở nhỏ, nó gợi lên cho tôi một thế giới lãng mạn; thời chiến tranh, khi hát lên, ta thấy cuộc đời nhẹ nhõm và quên đi gian khổ, còn cho tới bây giờ, tôi thấy Văn Cao đã nói lên những khát vọng và những nỗi buồn muôn thuở của con người khi muốn đạt tới cái tuyệt đích... Hẳn anh Văn rất hạnh phúc khi cách mạng đã có một thiên tài như Văn Cao.
Đối với tôi, khi nhìn thấy bề ngoài Văn Cao, tôi có một cảm giác rất lạ: về hình thức và cả tính nết nữa, họ như đối lập với nhau: anh Văn thì kiên quyết, từ đường mày, đôi mắt, nét miệng, tất cả đều như tạc; còn Văn Cao thì hiền hòa, nét mặt không sắc cạnh. Thế nhưng ở họ, trong sâu thẳm, tôi thấy một tính cách mà tôi gọi là “nguyên phiến”. Dường như cuộc sống riêng tư và sự nghiệp, qua bao thử thách, chưa một điều gì có thể khiến họ lao đao, phủ nhận niềm tin, lý tưởng đinh ninh khắc cốt trong họ, kể cả khi Văn Cao viết một câu thơ như “Có lúc/ Nước mắt không chảy ra ngoài được”...
Những nghệ sĩ như Tào Mạt cũng vậy. Tới những ngày cuối cùng, khi chị Hà thay mặt anh Văn cùng đi với tôi vào Bệnh viện 108 thăm người bộ đội - nghệ sĩ ấy, mới đi tới hành lang đã nghe thấy tiếng Tào Mạt hát rung chuyển cả phòng bệnh: các bác sĩ nói anh hát để nén những cơn đau của bệnh ung thư đang hành hạ giày vò anh.
Những trí thức bạn bè anh cũng “bộ đội hóa”. Tôi nhớ mãi một Tôn Thất Tùng lần đầu gặp, vận quân phục đeo thắt lưng to bản, đầu đội mũ béret basque (một loại mũ nồi của Tây hơi to, kéo xuống phía sau gáy) nom như một sĩ quan Tây mới nhảy dù xuống, lại hay nói tiếng Tây xen lẫn tiếng Việt, nhưng vẫn văng tục theo kiểu rất “mệ”. Thành tích sáng ngời của người anh hùng lao động ấy ai cũng đã biết.
Nhưng điều ngạc nhiên đến với tôi là khi đọc những trang nhật ký về Điện Biên Phủ của “ông Tây” dòng họ Tôn Thất này: đơn giản, “nguyên phiến” đi thẳng tới lý tưởng, chẳng khác gì Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm: “Đêm qua mưa, nghĩ đến thương binh ở tiền tuyến trong các giao thông hào mà ứa nước mắt(...). Những trận mưa vừa qua làm cho anh em ướt át gian khổ thêm. Xin Tổng cục Chính trị nilông và D.D.T(...). Rét rừng, rét đến xương, tủy, mặc hết cả quần áo, đắp hết cả chăn mà hai đầu gối vẫn buốt. Còn như anh chị em dân công thì sao?(…) - 7/5/54. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc. Em và các con Trân Bách ơi! Chiến sỹ Điện Biên Phủ đã chiến thắng. Một trang sử mới bắt đầu. Ôi Việt
Cũng vào năm 2011 này, tôi đọc được một mẩu chuyện do học trò cũ của thầy Tôn Thất Tùng kể về thời đi thực tập ngay tại dưới hầm mổ ở chiến trường. Thương binh nặng rên la, có người cáu gắt chửi cả bác sỹ. Người y sinh trẻ tuổi lộ vẻ tức giận vì điều đó (dám mắng mỏ một người như thầy Tùng!), thì thấy thầy của mình nhẹ nhàng bảo: anh em thương binh đau đớn quá, bệnh nhân khi đau như vậy phải thông cảm với họ… Ngẫu nhiên, tôi lại liên tưởng tới một giai thoại - tất cả những người anh hùng đều có giai thoại - về tật chửi bậy của bác sỹ Tùng: trong một số ca mổ căng thẳng, người phụ tá tích cực là bà Hồ (phu nhân của bác sỹ) lại chính là người được hứng những chuỗi mắng mỏ của vị phẫu thuật viên lừng danh ấy!
Giờ đây nhìn phòng khách nhà 30 Hoàng Diệu, nghĩ đến những người nay hầu hết đã đi xa, rất xa, tôi lại một lần nữa tự hỏi: “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?”.(Thơ Vũ Đình Liên)

