Phó nháy nghiệp dư

Thứ Ba, 04/02/2014, 10:30

Chẳng hiểu duyên cớ từ đâu mà ở xứ tôi nói tới một số nghề phụ, người ta lại gắn thêm một chữ “phó” đằng trước. Ví như nghề thợ mộc gọi là “phó mộc”; cắt tóc gọi là “phó cạo”; may quần áo, gọi là “phó may”; nghề chụp ảnh, gọi là “phó nháy”… Tôi thuộc lớp hậu sinh, tò te tý nghề nhiếp ảnh, nên tự phong cho mình là “phó nháy nghiệp dư”…

Đối với tôi, môn nghệ thuật nhiếp ảnh, nôm na gọi là nghề nhiếp ảnh, từ thuở còn đang cắp sách ở trường làng cho tới nay, mãi mãi là một nghề sang trọng. Cái nghề một thời đã từng kén chọn người chơi đến kiêu kỳ, thách đố… Đối với lũ trẻ con nhà nghèo chúng tôi ở thôn quê, hầu như không có đứa nào dám bén mảng tới, dù chỉ một lần được có mặt trong khuôn hình cũng là điều mơ ước viển vông, không tưởng!

Thuở ấy chúng tôi đi xem chụp ảnh

Làng La Phẩm của tôi xưa thuộc tổng Thanh Lạng, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, một làng quê nghèo nằm bên bờ sông Hồng, cách phố Phủ 9 cây số, cách thị xã chừng hai chục cây. Cả phố Phủ chỉ có một hiệu ảnh. Ở thị xã có bao nhiêu, tôi mù tịt. Bởi tới năm 18 tuổi vào bộ đội mà tôi chưa một lần được về thị xã. Và, tôi dám chắc rằng, cả làng La Phẩm tôi trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chưa có một công dân nào được đứng trong khuôn hình nhiếp ảnh. Bởi thế, mỗi khi nghe tiếng xe “bình bịch” (xe máy) là biết ngay có thợ ảnh từ thị xã về làng (gọi là chụp ảnh dạo), lũ trẻ chúng tôi í ới gọi nhau đi xem. Đuổi theo đến vã mồ hôi mà chẳng lần nào được tận mắt xem người ta chụp ảnh. Mãi tới năm tôi lên mười tuổi, nhân đám cưới của chú Chí tôi với thím Hoành, hai nhà thuộc diện khấm khá trong làng, chú tôi lại đang theo học tú tài nhất (năm thứ nhất tú tài), nên ông đã mời thợ ảnh từ thị xã về.

Trinh sát kỹ thuật cụm TB H67 tại Bến Tre năm 1973.

Thú thật, đó là lần đầu tiên trong đời tôi được xem một đám cưới sang trọng, chú rể diện comlê, cô dâu mặc áo dài tân thời, người thợ ảnh cũng diện đồ tây trắng toát, mũ phớt cũng trắng toát. Tôi như bị hớp hồn trước chiếc máy ảnh đeo trước ngực người thợ. Hai ngày sau, nghe tiếng xe “bình bịch”, tôi tót sang nhà chú tôi, giữa lúc mọi người đang xúm đông quanh chiếc bàn ở góc sân. Tôi cố len vào, bỗng khẽ reo lên trong lòng - “Đẹp quá! Chú thím tôi đẹp quá!...”. Đó là những bức ảnh đầu tiên trong đời tôi được nhìn thấy.

Điều không ngờ tới

Năm 1961, tôi trúng tuyển bộ đội, vào lính pháo binh. Gần 4 năm gắn bó với núi rừng Tây Bắc. Chuyển ngành về Tỉnh ủy Sơn Tây rồi được cử đi học lớp nghiệp vụ do Văn phòng Trung ương mở để đi công tác Sứ quán ta ở nước ngoài. Lớp học có hơn 200 người. Sau đợt Mỹ ném bom miền Bắc và đưa quân vào chiến trường miền Nam, lớp lính cũ chúng tôi đồng loạt xung phong tái ngũ. Tôi là một trong số hơn 30 người được cục II (Tình báo quân đội) tuyển chọn, huấn luyện để đưa vào chiến trường “B”.

Tôi và Nguyễn Văn Giai (sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng Tình báo) được đưa về huấn luyện tại một ngôi nhà “mật” ở phố Hàng Bè. Các thầy dạy nghiệp vụ đều ở trong thành Hoàng Diệu. Cứ một thầy, hai trò cho tới hết khóa học.

Buổi học đầu tiên, anh Long (cán bộ trực tiếp phụ trách chúng tôi) đưa tới gặp một thầy và vào đề: “Các đồng chí tập trung tinh thần học cấp tốc một số môn cơ bản của ngành. Môn đầu tiên có ý nghĩa thiết thực mà sau này các đồng chí thường xuyên sử dụng. Vì vậy, thời gian sẽ ưu tiên nhiều hơn. Đó là môn Nhiếp ảnh…”.

Trái tim tôi như muốn vượt khỏi lồng ngực. Thật là điều không ngờ tới. Ký ức tuổi thơ vụt trở lại. Không hiểu trời run rủi thế nào mà “cái nghề sang trọng” ấy bỗng chốc lại đến với tôi. Cứ như là chuyện khoa học viễn tưởng! Có lẽ vì thế mà môn học này tôi tiếp thu “hơi bị” nhanh. Chỉ sau 2 tuần lễ, từ một người mù tịt về nhiếp ảnh, chúng tôi có thể làm ra được một bức ảnh hẳn hoi với bao công đoạn. Từ cầm máy, mở máy, lắp phim, điều chỉnh cự ly, ánh sáng, bấm máy, tua phim, tháo phim… rồi phương pháp chụp chân dung, phong cảnh, chụp tài liệu… cho tới pha thuốc hiện hình, giữ hình, tráng phim trong buồng tối, tráng phim ban ngày trong túi đen, rồi sấy phim, in ảnh, phóng ảnh, sấy ảnh, đọc phim tài liệu qua kính lúp… Chừng ấy thứ, đối với một nhiếp ảnh gia thì chẳng có gì đáng nói. Song, đối với chúng tôi hồi đó thì quả là kỳ công, tuyệt hảo.

Những bức ảnh thời chinh chiến

H67 triển khai kế hoạch chống càn (1972).

Ấy là tôi muốn nói tới những bức ảnh của đám nghiệp dư chúng tôi. Không dám mảy may so sánh với các nghệ sĩ, chiến sĩ cầm máy vượt qua lửa đạn để có những bức ảnh sống động trong các trận đánh của bộ đội ta.

Mười năm ở chiến trường Nam Bộ (1965-1975) tôi đã công tác, chiến đấu ở 3 cụm tình báo chiến lược (B48, B49, H67) với tên gọi là Khổng Thái Dương. Phương án vào hoạt động hợp pháp tại Sài Gòn không thực hiện được dẫu rằng tôi đã được tổ chức chuẩn bị rất chu đáo về mặt thủ tục: Với họ tên giả là Đỗ Văn Nga (đội lốt lính pháo binh thuộc Sư đoàn 7) với thẻ căn cước của chế độ Sài Gòn, giấy khám sức khỏe với lời phê của đốc tờ “cho giải ngũ vì bệnh yếu tim”. Về cư ngụ tại Lai Khê - Bến Cát - Bình Dương. Với nghề nghiệp Giáo sư bậc Trung học. Cho dù tuổi đời khai tăng tới 7 năm, nhưng nhìn tướng hình dáng bộ thì chẳng che giấu được, lại đúng thời điểm địch tăng cường dồn quân, bắt lính, nên tôi được đưa về công tác tại bộ phận căn cứ. Được lãnh đạo giao trách nhiệm nghiên cứu tin tức từ các lưới điệp báo nội thành để chuyển về Trung tâm; tiếp xúc, cảm hóa để phát triển lực lượng bí mật nội thành; phối hợp với địa phương làm công tác tuyên truyền…

Tin tức từ các lưới điệp viên báo nội thành thời đó gửi về căn cứ qua mấy hình thức: Viết tay được ngụy trang bằng bí số, tiếng lóng; viết tay bằng mực bí mật trên các lề sách, báo; bằng phim ảnh (phim đã tráng hoặc chưa tráng). Những tài liệu nguyên bản, nhiều trang, nội dung quan trọng điệp viên thu được trong các tổ chức của địch, chủ yếu sử dụng hình thức này. Một số chỉ đạo của Cụm cho các điệp viên cũng phải dùng tới phim ảnh. Vì vậy, bộ phận căn cứ của các cụm tình báo phải có cán bộ biết nghề ảnh.

Căn cứ bám trụ của các cụm tình báo, an ninh thời đó thường ở vùng giáp ranh với địch hoặc vùng trọng điểm đánh phá như Củ Chi, nam Bến Cát, Mật khu Bời Lời… Vì vậy, việc làm ảnh cực kỳ khó khăn, chủ yếu thực hiện dưới hầm sâu, đậy nắp kín, đề phòng ánh sáng bất ngờ từ bom, pháo của địch dội xuống sẽ làm hỏng phim.

Để có đầy đủ một bộ đồ nghề dã chiến về ảnh, không phải chuyện dễ dàng. Phải thông qua một cơ sở bí mật nội thành biết nghề này mua sắm, ngụy trang giao cho giao thông viên hợp pháp chuyển dần về căn cứ. Khi thì mấy cuộn phim, tập giấy ảnh; khi thì gói thuốc hiện hình, giữ hình được bọc kỹ, để lẫn trong cái túi thực phẩm, gia vị.

Về ánh sáng khi in và phóng ảnh chúng tôi phải sử dụng đèn pin. Việc sấy ảnh, phải sử dụng bếp than. Tất cả đều thực hiện vào ban đêm. Kể cả thông tin liên lạc về Trung tâm. Bởi ban ngày lo đối phó với càn quét của địch.

Làm ảnh thời đó khó khăn, phức tạp lắm, bởi luôn phải đối phó với tình huống bất trắc xảy ra. Có lần vừa pha thuốc tráng phim xong, bỗng có lệnh phải rời căn cứ gấp, đề phòng địch càn vào. Tôi nhớ, một lần ở miền Đông Nam Bộ, tình huống xảy ra đến thót tim. Có 8 cuộn phim chưa tráng từ nội thành chuyển gấp về. Đó là tài liệu quan trọng do điệp viên thu được từ Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Biết tính chất tài liệu, nên đã tráng phim dưới hầm, tôi vẫn cẩn thận thao tác trong túi đen. Cuộn phim cuối cùng vừa thả vào hộp thuốc định hình thì một loạt pháo từ căn cứ Đồng Dù của địch dội tới làm tung cả miệng hầm của tổ chúng tôi. Dứt đợt pháo, anh em đơn vị lao tới, ánh đèn pin loang loáng, từ dưới hầm, tôi thét lên - “Tắt đèn! Tắt đèn ngay! Chúng tớ vẫn đang sống nhăn, không việc gì đâu”. Rất may, khu vực bếp Hoàng Cầm an toàn, nhờ vậy mới có chỗ sấy phim. Chúng tôi mừng đến rơi nước mắt, bởi cả 8 cuộn phim chất lượng đều tốt.

Ngoài việc sử dụng kỹ thuật ảnh cho công tác nghiệp vụ, đôi khi cũng sử dụng trong sinh hoạt của đơn vị như ngày lễ, tết, đám cưới của anh em… Với tinh thần tiết kiệm từng kiểu ảnh. Ấy là chưa kể đã sử dụng tới “máy tiết kiệm” - một cuộn phim 36 đã chụp được 72 kiểu. Giữa chiến trường ác liệt, đôi uyên ương không áo cưới, không tiệc tùng đình đám, chỉ liên hoan tiệc trà bánh kẹo, nhưng có một tấm ảnh cưới, dẫu chỉ là ảnh trắng đen là hạnh phúc lắm rồi, chẳng ai quan tâm, bình luận về cái khoản nghệ thuật.

Đối với chúng tôi, những bức ảnh thời đó, đã trở thành những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời chinh chiến của mình.

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Khổng Minh Dụ
.
.
.