Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Bác Hồ vĩ đại (19-5-1890/ 19-5-2011):

Nhân hòa

Thứ Hai, 23/05/2011, 15:53
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm họp vào tháng 8/1948, Bác Hồ đã nêu ra 6 yếu tố tạo nên đạo đức cách mạng của người cán bộ cộng sản là Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung. Người cán bộ có đủ 6 yếu tố này mới có thể đạt được "nhân hoà" và thực sự có uy tín trước quần chúng để người dân tin yêu, sống chết cùng mình không sợ hiểm nguy, góp phần đưa cách mạng thành công mau chóng và vững chắc.

Tư duy cổ truyền phương Đông luôn nhấn mạnh tới yếu tố  thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Bác Hồ từng lý giải:

"Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi và nhân hoà.

Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa.

Nhân hoà là thế nào?

Nhân hoà là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết".

Như vậy, theo ý tưởng của Bác Hồ, thu phục được nhân tâm là nhiệm vụ quan trọng trên hết của các cán bộ, "những người tướng của đoàn thể".

 Và để đạt được mục đích "nhân hòa", các cán bộ cộng sản cần phải Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung. Cũng trong bài nói chuyện đã dẫn ở trên, Bác Hồ giải thích khá cặn kẽ nội dung của các tiêu chí trên. Theo Người, "Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng...". Và vì thế người cán bộ cách mạng "tuyệt đối không được khinh địch. Tục ngữ có câu: "Sư tử muốn bắt con chuột phải dùng hết sức mới bắt được". Khinh địch tất sẽ thất bại".

Trong quan niệm của Bác, "Tín là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng là phải thưởng. Tín còn có nghĩa là tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn, tự cao". Bác căn dặn thêm: "Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ". Còn "Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh...". Với Bác, "Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung...".

Bác viết: "Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống...". Theo Bác, "tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm."

Bác Hồ định nghĩa: "Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng". Chữ Trung trong khái niệm mà Bác đưa ra rộng hơn chữ Trung của thời cũ...

Nếu đạt được tất cả những phẩm hạnh trên, người cán bộ cách mạng tất yếu "đắc nhân tâm". Bản thân Bác Hồ đã luôn là một tấm gương mẫu mực về Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung. Những phẩm chất ấy đã giúp Bác luôn luôn thành công trong việc gây dựng yếu tố "nhân hòa", dù ở bất cứ tình huống nào và vào bất cứ thời điểm nào của cách mạng.

Những nhà lập quốc bao giờ cũng phải biết cách thuyết phục nhân quần tin theo lẽ phải và lý tưởng mà mình đã chọn lựa, biến đó thành mục tiêu và lý tưởng của toàn thể dân tộc. Và việc này không bao giờ là dễ cả. Nhìn lại các chặng đường sống và hoạt động cách mạng của Bác, chúng ta có thể thấy rõ những trở ngại và khó khăn mà Bác từng phải vượt qua để chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay đã trở thành con đường mà dân tộc Việt Nam chọn lựa để xây dựng một tương lai sáng rạng và công bằng hơn.

Xuất phát điểm của Bác, cũng như của một số nhà cách mạng và cách tân tiền bối chân chính, luôn là lợi quyền thiết thân của dân tộc Việt Nam. Như thực tế cho thấy, không phải lúc nào hướng đi của phong trào cách mạng quốc tế cũng nhất nhất trùng khít với những nhiệm vụ chiến thuật và chiến lược của chúng ta nhưng nếu có cách hành xử tỉnh táo và hữu lý, chúng ta luôn có thể tận dụng được những xung lực có lợi cho đất nước mình và tránh đi những phản lực không cần thiết.

Chiều 26/12/1920, Nguyễn Ái Quốc đứng lên phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp cũng đơn giản chỉ từ nhận thức rằng Đảng này với việc gia nhập Quốc tế thứ ba có nghĩa là đã "hứa một cách cụ thể rằng, từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa" và có thể mai này "phái một đồng chí của Đảng để nghiên cứu tại chỗ những vấn đề Đông Dương và đề xuất những hoạt động cần phải tiến hành".

Và trong nếp tư duy ấy, cũng tại Đại hội trên, Nguyễn Aái Quốc đã nhấn mạnh: "Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi!". Sự thành tâm và thẳng thắn đối với vận mệnh của quốc gia mình mà Bác Hồ thể hiện trong Đại hội trên đã khiến những người con yêu nước chân chính của các quốc gia khác cảm thấy tương đồng và khâm phục.

Những tràng vỗ tay hoan hô lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc hôm đó, đúng như lời Chủ tịch Đại hội là ông Êmin Guđơ nhận xét: "Có thể cho thấy rằng toàn thể Đảng Xã hội đứng về phía đồng chí để phản đối tội ác của giai cấp tư sản". Đọc lại hàng loạt những lá thư mà Bác Hồ từng gửi cho Quốc tế Cộng sản những năm 30 của thế kỷ trước, rất dễ nhận ra cách hành xử đầy tài trí và tinh thần vì nước quên thân của nhà cách mạng Nguyễn Aái Quốc.

Bác đã hành động đúng như Bác nói rằng Bác đến với chủ nghĩa Mác-Lênin vì thấy ở đó con đường duy nhất có thể giúp cứu dân tộc mình, Tổ quốc mình khỏi ách thuộc địa. Được soi rọi bởi chủ nghĩa Mác-Lênin, Bác vẫn biết cách tiếp thu những tinh hoa lý tưởng khác của nhân loại để làm giàu có thêm gia tài lý luận của những người cách mạng Việt Nam trên con đường cứu dân, cứu nước. Bác Hồ có cái nhìn anh minh về các hệ tư tưởng khác nhau. Người biết chắt lọc tinh hoa trong kho tàng trí tuệ nhân loại để đúc kết nên những hạt mầm  nhân bản mang tính vĩnh cửu...

Với ai đó thì thà ta phụ đời hơn để đời phụ ta, nhưng Bác Hồ là người có phương thức hành động khác hẳn. Bác rất nghiêm túc và nghiêm khắc với công việc của mình, nhưng lại độ lượng với những sơ suất hoặc chưa đủ tầm của những người khác. Vốn hiểu biết của Bác là vô biên nên sự tha thứ và thông cảm của Bác cũng là vô tận.

Bác không bao giờ bỏ lỡ các cơ hội có thể giúp cho cách mạng Việt Nam thêm bạn, bớt thù. Theo hồi ức của đồng chí Lê Giản, nguyên Giám đốc Nha Công an khi du kích ta bắt được một phi công Mỹ ở trong rừng, Bác đã gặp gỡ và trò chuyện với  người tù binh đó.

Rồi Bác quyết định sẽ đích thân đưa viên phi công sang Trung Quốc để trao trả cho phái bộ Mỹ ở đó. Mọi người lo lắng cho Bác nhưng Bác đã trấn an tất cả. Bác ăn vận giống hệt một ông già người Thổ, mang theo mình vài con gà. Bác cũng bảo viên phi công Mỹ hóa trang. Rồi hai người đi sang Trung Quốc, tới tận Côn Minh...

Chính nhờ cử chỉ như thế của Bác mà sau đó, ta đã tranh thủ được những sự ủng hộ nhất định của phía Mỹ. Thậm chí, họ còn cử một số cố vấn sang giúp ta đánh phát xít Nhật. Còn theo hồi ức của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, khi quân Tưởng tràn sang ta sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã nói: Chính sách của ta hiện nay phải là chính sách Câu Tiễn. Nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục...".

Chính nhờ biết cách khéo léo ngoại giao như thế nên ta không chỉ nắm được thành phần đoàn quân Quốc dân đảng khá rõ, mà còn phân hóa được nội bộ chúng. Nhiều viên sĩ quan Quốc dân đảng còn được ta cảm hóa và có thái độ khá thân với ta...

Mềm dẻo nhưng không yếu ớt. Khi cần thiết, Bác có thể trở nên cứng rắn tới không ngờ trước những yêu cầu quá quắt của phía bên kia. Khi một số tên Quốc dân đảng đòi ta phải cung cấp gạo, xăng cho chúng, Bác đã trả lời dứt khoát: "Các ông bảo chúng tôi cung cấp cái gì chứ cung cấp gạo, xăng thì không thể. Cung cấp gạo để cho nhân dân tôi chết đói ư? Chúng tôi không thể cung cấp được. Còn dầu xăng thì nước tôi không sản xuất ra dầu xăng, nên lại càng không có...".

Với đồng chí, đồng đội, với những người được vinh dự làm học trò của Người trên con đường cách mạng, Bác cũng luôn biết cách ứng xử nhuần nhụy, thấm đậm tình cảm, chiều người để lấy việc. Ai từng ở cạnh Bác đều nhớ tới cách điều hành các cuộc họp của Bác. Khi thấy trong cuộc họp xuất hiện một vấn đề nào đó gây nên nhiều ý kiến khác nhau, chưa dễ dàng thống nhất được, Bác Hồ, mặc dù đã có chủ kiến của mình rồi, vẫn chưa vội đưa ra quyết định mà lại tạm dừng cuộc họp lại để tới hôm khác làm việc tiếp.

Trong khoảng thời gian giữa hai cuộc họp, Bác đích thân đi gặp gỡ riêng từng người một, tìm hiểu các góc nhìn khác nhau về vấn đề đang bàn, lý giải góc nhìn của Bác để mọi người xích lại gần hơn một quan điểm chung. Và chỉ tới khi ấy, Bác mới lại triệu tập họp lại... Chân lý được tôn trọng và hòa khí cũng được giữ gìn

Văn Bình An
.
.
.