Nhà văn Đức Erich Maria Remarque: Một kiếp cô đơn

Thứ Sáu, 26/09/2008, 08:30
Erich Maria Remarque (22/6/1898 – 25/9/1970) là một nhà văn lớn, một trong những người phát ngôn xuất sắc nhất cho một thế hệ bị chiến tranh tàn phá dù vẫn toàn mạng sống, trong suốt cuộc đời mình, Remarque luôn ấp ủ trong lòng nỗi cô đơn bất tận với thế giới xung quanh và thậm chí cả với những người gần gụi nhất.

Tác giả của "Phía Tây vẫn yên tĩnh", "Ba người bạn", "Thời gian sống và thời gian để chết", "Khải hoàn môn"… từ lâu đã trở nên quen thuộc với độc giả khắp nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam. Phần lớn những tác phẩm chủ đạo của Erich Maria Remarque (22/6/1898 – 25/9/1970) đều đã được dịch ra tiếng Việt.

Là một nhà văn lớn, một trong những người phát ngôn xuất sắc nhất cho một thế hệ bị chiến tranh tàn phá dù vẫn toàn mạng sống, trong suốt cuộc đời mình, Remarque luôn ấp ủ trong lòng nỗi cô đơn bất tận với thế giới xung quanh và thậm chí cả với những người gần gụi nhất.

Remarque cho in tác phẩm đầu tiên của mình "Phía Tây vẫn yên tĩnh" năm 1929 và lập tức trở thành tên tuổi khả kính trong làng văn Đức và châu Âu thời đó. Trong vòng một thời gian ngắn, "Phía Tây vẫn yên tĩnh" bán được tới hơn 8 triệu bản. Cuốn tiểu thuyết tiếp theo của ông, "Trở về" (1931), cũng gây được ấn tượng mạnh mẽ tương tự và lập tức được dịch ra hàng chục thứ tiếng. Rồi tới tiểu thuyết "Ba người bạn"... Thành công nối tiếp thành công đến với ông.

Tuy nhiên, ngay khi đã trên đỉnh vinh quang, Remarque vẫn phải gặp không ít rắc rối trong việc in ấn tác phẩm. Theo cuốn nhật ký mới được công bố, gần chục năm sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Remarque đã vấp phải không chỉ thái độ  định kiến của các nhà phê bình văn học Đức, mà ngay cả sự kiểm duyệt của các ông chủ xuất bản. Chuyện xảy ra với tiểu thuyết "Thời gian sống và thời gian để chết" của ông.

Năm 1954, Remarque mang tới nhà xuất bản của Joseph Kaspar Vich tác phẩm mới của mình. Sau khi đọc nó, Vich đã viết cho nhà văn một bức thư dài dằng dặc, yêu cầu sửa đổi "một số chi tiết nhỏ". Vốn là một nhà chiến thuật khôn khéo, Vich giải thích yêu cầu của mình là vì muốn gìn giữ cho Remarque khỏi bị các nhà phê bình tấn công vì những chỗ hở sườn trong tác phẩm. Hơn nữa, theo Vich, có biên tập viên của ông ta cho rằng, không thể chấp nhận được không chỉ một phần trong "Thời gian sống và thời gian để chết".

Có lẽ điều này gần với sự thực hơn cả. Theo yêu cầu của ông chủ NXB, cuốn tiểu thuyết đã bị đánh mất khá nhiều độ gay cấn về chính trị. Nhân vật chính diện chủ đạo vốn là một đảng viên cộng sản đã bị chuyển thành người dân chủ xã hội. Các cảnh miêu tả tội ác của bọn quốc xã ở Liên Xô bị giảm tông. Chuyện một tên lính Đức phát xít gọi mình và đồng bọn là những kẻ sát nhân đã bị tước bỏ hoàn toàn ra khỏi tác phẩm. NXB cho rằng, người dân Đức trong thập niên thứ năm của thế kỷ XX chắc chắn không thích những chuyện đó.

Nói chung, bản thân Remarque cũng không được đồng bào mình ưa chuộng. Ngay cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, "Phía Tây vẫn yên tĩnh" viết về thế chiến thứ nhất cũng đã gây nên những cuộc tranh cãi gay gắt. Cánh hữu ở Đức lúc đó coi đấy như một mưu toan bôi nhọ người quân nhân Đức.

Ngày 12/12/1930 tại Đức đã cấm chiếu bộ phim mà người Mỹ dựng theo cuốn sách của Remarque. Chính vì tiểu thuyết đầu tay này mà Remarque bị bọn quốc xã vô cùng căm thù. Tháng 5/1933, sau khi Hitler lên cầm quyền ở Đức, sách của ông cùng tác phẩm của những nhà văn Đức tiến bộ khác đã bị đốt cháy trong những đống lửa do bọn phát xít đốt lên.

Remarque đã không hề có ảo tưởng gì về chủ nghĩa phát xít. Ngay từ năm 1931, khi bè lũ Hitler mới đang trên con đường tiến sát lại chính quyền, ông đã chuyển sang cư trú tại Thụy Sĩ. Cuốn tiểu thuyết thành công đã giúp ông trở nên giàu có, tức là tạo được sự độc lập về tài chính.

Nhưng các đồng nghiệp thì lại không ưa ông. Thí dụ như Thomas Mann; nhà văn cũng rất danh tiếng này đã không muốn đi cùng ông ra phố, mặc dù cả hai đều là những người Đức trốn chủ nghĩa phát xít sang Ascor. Nhiều nhân vật người Đức tị nạn ở Mỹ không thích ông nhà văn triệu phú lúc nào cũng chải chuốt ăn diện hơn mọi người xung quanh, đã bỏ nước Đức đi chỉ vì căm ghét chủ nghĩa phát xít, chứ không phải vì là người Do Thái sợ bị khủng bố.

Các quan hệ của Remarque với các minh tinh Hollywood càng làm ông cách xa những sinh hoạt văn học nhộn nhịp thường ngày, thậm chí còn khiến ông trở nên khả nghi trong con mắt giới trí thức thiên tả.

Remarque đã rất cô đơn, mặc dầu bên ông luôn có các mỹ nhân sắc nước hương trời. Không có tình yêu thực sự thì những người đẹp chỉ làm lòng ta thêm trống rỗng. Năm 1940, trong một dạ hội thượng lưu ở Los Angeles, ông đã ngồi giữa hai siêu sao thời đó là Bette Davis và Marlene Dietrich. Chơi cho họ nghe lúc ấy trên cây đàn piano của Chopin là nghệ sĩ lừng danh Rubenstein!

Bốn giờ sáng, Remarque đã làm được một việc mà hàng triệu người đàn ông trên thế giới mơ ước là chở Marlene Dietrich về nhà nàng. Và nàng trút bỏ y phục... Thế nhưng, như ông viết trong nhật ký, "tôi đã quá mệt nên không muốn gì cả, không muốn cả làm lành hay cãi nhau, tôi chỉ hôn tay nàng rồi bỏ đi, cảm thấy sau lưng cả một luồng hơi lạnh"…

Cuộc tình với Marlene Dietrich còn kéo dài thêm một thời gian nữa nhưng đó quả thực là quãng đời không hề vui vẻ đối với nhà văn. Vốn quen được chiều chuộng và ca tụng, Remarque đã không chịu nổi phong cách lạnh lùng và kiêu hãnh của nữ minh tinh hàng đầu đó của Hollywood. Và cuối cùng, ông đã đoạn tuyệt nàng, không bao giờ lại gần. "Tình yêu không thể làm mình bị hoen ố bởi tình bạn. Kết thúc, là kết thúc" - Remarque đã viết trong "Khải hoàn môn" như thế.

Sau Marlene Dietrich, Remarque còn say mê vô số các diễn viên cả lớn lẫn nhỏ ở Hollywood. Nhưng ông đã vượt qua mọi trò mạo hiểm của cuộc đời mình như thể những chuyện đó xảy ra với ai đó khác, chứ không phải với chính ông. Ông như thể một vị khách trong chính cuộc đời mình. Châu Âu lúc đó đang rực lửa chiến tranh, quân phát xít tràn tới cửa ngõ Moskva và điều này khiến Remarque cảm thấy bi quan.

"Dù có cố gắng mấy để rũ bỏ mọi thứ khỏi mình, thì bóng tối nơi chân trời vẫn dày thêm và buộc đời thường phải trôi nhanh hơn: cần phải lấy mọi cái từ nó, một khi bóng tối chưa nuốt chửng ta" - ông viết trong nhật ký.

Mỗi tối ông ghé vào 5-6 quán bar với "khát vọng" nhấn chìm nỗi sợ hãi trong rượu... Remarque không ưa các tối tiếp tân rỗng tuếch ở Hollywood, nhưng ông lại luôn quẩn quanh với các minh tinh vì ông muốn dùng cách này chống lại khủng hoảng thần kinh. Ông xuất đầu lộ diện ở nơi đông người nhằm chứng tỏ rằng bọn quốc xã đã không thể bẻ gãy nổi ông. Ông nói, chỉ khi con người tự đầu hàng thì bọn phát xít mới thắng được ta…

Cuộc sống của Remarque là khoảng thời gian xa hoa giữa các loại ghế. Đó là cuộc chơi làm ông rớm máu trong y phục của một nhân vật thượng lưu, một tình nhân đào hoa, một nhà văn thành đạt được Hollywood nuông chiều và chuyển tác phẩm thành phim.

Và chỉ những trang nhật ký vừa được công bố mới cho thấy rõ mặt sau của sự việc: những đau khổ tình ái mà Marlene Dietrich đã khiến ông lâm vào các cuộc nhậu tối ngày và sự đau đớn vật vã khi viết sách. Để có cuốn "Khải hoàn môn", ông đã phải mất tới 7 năm. May mà nó cũng chính nó lại mang tới cho ông dư vị thành công như thuở ban đầu, giải phóng cho ông khỏi xiềng xích của những mặc cảm mà ông mắc phải khi sống trong vinh quang nhung lụa của thành công đầu tiên.

Thế nhưng ở nước Đức, cả khi sau chiến tranh thế giới thứ hai, Remarque vẫn không được chuộng, vì ở nơi này người ta muốn khâm liệm hoàn toàn quá khứ. Remarque bị buộc tội tự phá đổ nhà mình. Có lẽ vì thế nên ông đã đồng ý sửa đổi "Thời gian sống, thời gian để chết" theo yêu cầu của NXB. Ông qui thuận một cách lặng lẽ... Ngay cả Vich cũng viết: "Ông đã lặng lẽ chấp nhận cắt ngắn đi, đến nỗi, tôi sợ rằng, ông làm việc này không phải tự lòng".

Nói thế còn là nhẹ. Theo nhật ký của Remarque, ông đã cảm thấy kinh tởm khi phải cắt bỏ và sửa đổi tác phẩm của mình. Ông cho rằng, nước Đức đang tìm về các trật tự cũ. Điều đó khiến ông cảm thấy tuyệt vọng. "Một dân tộc đang tự biện minh" - ông viết về người Đức. 

Với chính đồng bào mình, Remarque như bị cô độc và xa lạ. Có bi kịch nào lớn hơn không?

Phạm Huy Dũng
.
.
.