Người mẹ xóm rừng: Hát ru con qua hai thế kỷ

Thứ Năm, 25/09/2008, 14:15
Chúng tôi về  Điện Bàn vào buổi sáng. Xóm Rừng tan hơi bom gần bốn mươi năm. Cuộc sống đã bình yên từ lâu lắm. Nhưng nỗi đau mất mát không thể là câu chuyện bình yên của lòng người. Nỗi đau vẫn như những vết cứa trong lòng người mẹ này. Chín lần tiễn con ra trận và đằng đẵng những ngày tháng khóc thầm. Tôi cứ tự hỏi rằng, đôi mắt ở tuổi 105 đã không còn mở được, lúc nào cũng như khói sương kia, phải chăng đã từng phải khóc quá nhiều vì mỗi lần nghe tin con mình vừa ngã xuống?

Tôi đã đọc rất lâu rồi, những câu thơ của Lê Anh Dũng: "Một bàn thờ/ mười một bát hương/ mười một bằng Tổ quốc ghi công/ trên mái đầu tóc bạc... Kẽo kẹt cửa/ Ai như tiếng con về/ ngọn gió hờ/ thức cùng mẹ năm canh. Trên thế giới xưa nay/ bao cuộc chiến tranh/ có người mẹ nào như mẹ/ chín con đẻ một con rể hai cháu ngoại/ lần lượt lên đường cầm súng/ lần lượt hoá thành mây trắng trời xanh… Các anh chết trẻ chết son/ Dồn tháng dồn năm tình thương cho mẹ/ Trong mắt mẹ con bao giờ cũng bé/ Như quả chín cành mẹ thấy hãy còn xanh". Đó là Mẹ Thứ.

Mẹ Thứ đã là đề tài không chỉ của Lê Anh Dũng. NSNA Trần Hồng cũng đã chụp những bức ảnh về mẹ mang tính biểu tượng. Mẹ với mâm cơm có đủ đầy bát đũa cho những đứa con. Nhưng chỉ mình mẹ còn thao thức. Cũng mẹ, với 9 cây nến cháy sáng. Mẹ thức nhìn nến tàn. Như mẹ đã thức bao nhiêu năm, nhưng những đứa con đã hoá thành mây trắng, các con không bao giờ quay về xóm Rừng với mẹ được. Cuộc sống đã trôi đi như thể một thế kỷ là quá ngắn. Mà người mẹ này vẫn âm thầm sống, không có bất cứ một đòi hỏi nào. Như thể cuộc đời đã sinh mẹ ra để chịu những thua thiệt, mất mát. Những mất mát không vô nghĩa. Những mất mát cho nắng ấm, cây xanh…

Căn nhà mẹ Thứ  ở xóm Rừng giờ vắng lặng nhiều. Những cây trái trong vườn vẫn rù rì ong bướm. Cây vú sữa trước sân đang trổ bông, mùi hương hoa bay dịu trong nắng. Xưa là căn nhà lá của mẹ Thứ. Cũng tại căn nhà này, mẹ đã nuôi 12 người con khôn lớn. Cũng tại căn nhà này, với chiếc nồi mười duy nhất, mẹ đã nấu cơm cho cả một tiểu đoàn bộ đội những ngày chiến tranh. Căn nhà này, chồng bà đã âm thầm đào hầm bí mật nuôi quân, ông bà đã không chịu nhận nhà tình nghĩa, lặn lội tìm mua những gian nhà cũ về để dựng lại sau vài chục lần giặc Mỹ đốt sạch nhà cửa. Vợ chồng bà đã ở đó biết bao nhiêu năm, sướng vui, hạnh phúc hay khổ đau cũng nảy mầm từ đó. Và căn nhà này, khuôn ngõ này, cả những gốc cây già trong khu vườn này, là chứng nhân cho những chuyến ra đi của các con mẹ. Những đứa con ra đi mà không trở về. Mẹ đã khóc tiễn con suốt bao nhiêu năm…

Mỗi năm Tết đến, bà dặn cô con gái lớn tên Trị làm mâm cơm cúng những người thân đã mất. Mâm cơm ấy có đủ 11 bộ bát đũa, có những món ăn quen thuộc các con, các cháu ưa thích khi còn sống, như bánh tét cho con út, bánh khô mè nảy lửa, thịt heo ba chỉ, kẹo ú… Cô con gái của bà tuổi đã không còn trẻ, chồng và các con cũng hy sinh ngoài chiến trường. Hai mẹ con đã mấy chục năm nương tựa nhau, chăm sóc cho nhau trong những lúc yếu lòng, san vợi cho nhau những buồn đau. Hai người mẹ mang trong lòng những vết thương không dễ lòng xóa bỏ.

Mấy tháng nay, mẹ Thứ đã không thể ở lại trong căn nhà của mình nữa. Bước vào tuổi 105, mắt mẹ đã không nhìn được, đầu năm trời lạnh mẹ bị viêm phổi phải đưa vào bệnh viện. Cũng từ đó sức mẹ không còn được như xưa nữa. Mẹ phải ở lại với người con trai trên TP Đà Nẵng để tiện việc chăm sóc. Anh Hiệp, cháu nội của mẹ ở lại, chăm sóc ngôi nhà, hương khói cho những anh linh đã khuất. Ngôi nhà vẫn vẹn nguyên như chưa từng xa cách mẹ. Vẫn chiếc bàn thờ nhỏ, nơi treo những di ảnh, những bát nhang hương khói của các con. Vẫn chiếc giường nhỏ nơi mẹ nằm. Đã biết bao nhiêu đêm mẹ nằm nghe đất thở, bao đêm mẹ nằm hát hò Quảng ru các con yên nghỉ. Và cũng đã bao nhiêu đêm mẹ thao thức vì những đứa con chưa tìm được hình hài ở một mảnh rừng nào.

Anh Hiệp bảo, nội đi rồi, nhà vắng đi nhiều lắm. Anh ở đây, làm nghề may gia công, để chăm sóc ngôi nhà. Anh Hiệp bị bại liệt từ năm lên hai tuổi, được mẹ Thứ nuôi nấng từ tấm bé, đến giờ mẹ vẫn là điểm tựa tinh thần vững chãi cho chàng trai nhiều thiếu hụt này. Anh Hiệp ghi địa chỉ của ba anh trên đường Hùng Vương cho chúng tôi. Ông Lê Tự Thận, con trai mẹ Thứ bước vào tuổi ngoài 60, nhưng dáng vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Ông đưa chúng tôi vào căn phòng nhỏ, mẹ Thứ nằm đó, mắt nhắm, miệng phóm phém cười: "Ai đó bây?". "Các anh nhà báo ở Hà Nội vào thăm mẹ, mang quà cho mẹ nữa".

Mẹ Thứ không nhìn được, nhưng tay vẫn nắm chắc, tai vẫn lắng nghe thật rõ tiếng người nói quanh mình. Mẹ vẫn có thể kể những câu chuyện đời mình. Nhưng mọi thứ có vẻ đã nhẹ nhàng đi nhiều lắm. Ông Thận kể, ngày nào mẹ cũng nói, mẹ muốn về lại xóm Rừng. Mẹ muốn về lại ngôi nhà của mình, hương khói cho các con và ngủ trên chiếc chõng tre cũ. Chiếc chõng tre đã ngả màu đen bóng, vẫn được đặt ở bờ hè, bên cạnh chiếc giương gỗ lâu ngày. Những vật dụng nho nhỏ, nhưng gắn với mẹ suốt những tháng ngày cơ cực. Mỗi sáng thức giấc, mẹ đều gọi: "Bây, mẹ muốn về Thanh Quýt".

Điện Bàn những ngày này nắng ấm, nhưng mẹ Thứ không còn đủ sức đi tha thẩn quanh khu vườn của mình. Tôi hỏi ông Thận, cuộc sống của mẹ bây giờ ra sao? Ông nói, tiền trợ cấp của mẹ mỗi tháng gần hai triệu, có thể coi như việc chi dùng tạm đủ. Nhưng cũng không có dư. Ông và gia đình vẫn làm nghề may gia công để kiếm sống. "Chú có muốn đề đạt gì thêm cho mẹ không?". "Không, công lao của gia đình cũng có nhưng nào đã thấm gì đâu so với hy sinh của cả dân tộc mình" - ông Thận nói. Giờ đây, hàng ngày ông vẫn ngồi bón cho mẹ từng muỗng cháo, nghe mẹ kể chuyện ngày xưa.

Hình ảnh mẹ Thứ đã trở thành nguyên mẫu của tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, được xây dựng trên núi Cấm, tỉnh Quảng Nam. Bức tượng đài đó được bắt đầu ý tưởng từ sự xúc động thực sự của những người nghệ sỹ trước sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Mẹ Thứ có lẽ là hình ảnh hiếm hoi được "tạc tượng" khi vẫn đang còn sống. Không ai biết được trong lòng mẹ đã nghĩ gì trong những đêm giông bão chiến tranh hay tin con mình ngã xuống. Nhưng cũng không ai thấy người mẹ này gào khóc đòi quyền lợi cho mình. Sự hy sinh ấy là hy sinh thần thánh. Họa sỹ Đinh Gia Thắng nói, tượng đài sẽ là một khối đá lớn, đỉnh khối đá là chân dung của mẹ Thứ, xung quanh là các thế hệ, là dòng suối biểu hiện cho sự tận hiến vì Tổ quốc.

Trên dải đất miền Trung, và trên cả đất nước Việt Nam này, có biết bao nhiêu người mẹ tiễn con đi và khóc thầm lặng lẽ. Có biết bao nhiêu nỗi buồn đã được giấu xuống tận đáy lòng cho cuộc chiến đấu đến ngày thắng lợi. Chiến tranh đã mang tất cả những tinh hoa Việt Nam ra trận và không phải ai cũng có ngày về. Máu và nước mắt, tất cả là một thứ ký ức không dễ nhòa nhạt, dù cho chiến tranh đã lùi xa rồi. Chiến tranh đã để lại biết bao vết sẹo trong trái tim những người mẹ ấy. Biết bao nhiêu người mẹ đã qua đời trong héo hắt chờ tin con. Mẹ Thứ là trường hợp hiếm hoi, dường như tuổi xanh của các con đã dồn cho mẹ thêm sức sống. Mẹ sống để hát ru các con mình.

Tôi vẫn nhớ hoài cái nắng trưa mùa thu Điện Bàn. Bầu trời cao vòi vọi và nắng trải đầy khu vườn của mẹ. Và tôi vẫn hình dung, mẹ của những ngày còn trẻ, vừa hát ru con vừa dọn vườn tược, trồng những mầm cây và chăm chúng lớn lên. Khi những mầm cây bị bom giặc chém gục, mẹ lại âm thầm vun lại những gốc cây còn sót lại, lại tiếp tục những tháng ngày tần tảo để nuôi chồng, nuôi con. Khi tôi rời Điện Bàn, cảm giác như vẫn đây đó tiếng hát ru của người mẹ đặc biệt này. Cuộc sống của mẹ đã trở thành biểu tượng

Bình Yên
.
.
.