Người may cờ bên giới tuyến
Với cây kim, sợi chỉ và một tấm lòng dành cho Cách mạng, mẹ đã miệt mài ngồi vá cờ, để lá cờ Tổ quốc luôn tung bay nơi tuyến đầu đạn lửa. Từ trong quá khứ chiến tranh cho mãi đến bây giờ, đã có người cầm bút để viết về mẹ Diệm.
Với riêng tôi, trong lần về thăm quê Quảng Trị vừa rồi, tôi đã rất may mắn được diện kiến và biết thêm được một con người mà trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, ông đã cần mẫn may những lá cờ Tổ quốc để ngày ngày tung bay kiêu hãnh trên cột cờ Hiền Lương lịch sử.
Người may cờ bên giới tuyến năm xưa ấy tên là Nguyễn Đức Lãng, quê ở xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Lần theo dòng địa chỉ mà nhà báo Trương Đức Minh Tứ - Phó Tổng biên tập Báo Quảng Trị ghi cho, tôi ngược từ thành phố Đông Hà lên Quốc lộ 9B, rẽ ngoặt qua đường Hàm Nghi một đoạn chừng non cây số, len lỏi qua con đường đất nhỏ rợp bóng tre xanh để tìm đến nhà ông ở khu phố 9, phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
![]() |
|
Lễ thượng cờ bên sông Bến Hải trong lễ hội thống nhất non sông (phục dựng cột cờ cũ bên sông giới tuyến). |
Ngôi nhà nhỏ nhắn, gọn gàng, một khoảng sân lặng yên, xung quanh khu vườn nhà um tùm một màu xanh cây trái. Ông tiếp tôi bằng chén nước chè xanh đang tỏa khói ngạt ngào thoảng mùi hương của làng quê sâu thẳm. Trong cái buổi sáng thanh bình ấy, một già một trẻ hàn huyên, và cứ thế… câu chuyện từ hơn 50 năm trước trong ký ức ông cứ như những thước phim từ dĩ vãng chầm chậm quay về…
Năm 1959, vừa bước vào tuổi 20, chàng trai Nguyễn Đức Lãng háo hức lên đường nhập ngũ trong đoàn quân đầu tiên thực hiện nghĩa vụ quân sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau một thời gian được huấn luyện tân binh ở đặc khu Vĩnh Linh, anh được điều về công tác ở Phòng Hậu cần thuộc lực lượng Công an vũ trang Vĩnh Linh. Năm 1960, anh được cấp trên giao nhiệm vụ ra kho 101 Cục Tham mưu, Bộ Tư lệnh ở Hà Nội để nhận cờ về treo trên cột cờ Hiền Lương.
Thời đó, cờ Tổ quốc có rất nhiều cỡ, anh nhận về 2 loại: loại cỡ 4,8m x 3,2m dùng để treo trên cột cờ Hiền Lương tạm làm bằng thân cây phi lao. Loại 4m x 6m dùng treo trên cột cờ bằng sắt. Những lá cờ Tổ quốc được anh gói ghém cẩn thận, gùi cõng an toàn mang về treo trên cột cờ Hiền Lương. Những ngọn cờ ngày ngày tung bay trong niềm tự hào của nhân dân bờ Bắc và thỏa lòng mong ngóng của đồng bào ruột thịt ở bờ
![]() |
|
Mẹ Diệm vá cờ, bên cầu Hiền Lương. |
Cách một quãng của dòng sông Bến Hải, từ phía bờ Nam, mỗi khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió ở phía bờ Bắc là bọn giặc vô cùng căm tức, chúng lồng lộn nã đạn liên hồi để phá rối, chúng thường xuyên cho tăng chiều cao của cột cờ và cho may những lá cờ ba sọc to hơn. Để đáp lại, phía ta cũng cho tăng chiều cao của cột cờ và không ngừng tăng diện tích của những lá cờ. Lúc cột cờ của ta có chiều cao cao nhất là 38,6 mét và diện tích của lá cờ là 96m2 (loại 8m x 12m), đó là thời điểm năm 1962.
Thời gian đầu, anh Lãng thường xuyên ra Hà Nội để nhận những lá cờ như thế về treo, nhưng hoàn cảnh chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt, bọn địch ở bờ Nam mỗi ngày tăng cường bắn phá dữ dội ra hướng bờ Bắc. Khoảng cách từ Vĩnh Linh ra Hà Nội lại quá xa, trong lúc điều kiện về phương tiện giao thông và đường sá thời bấy giờ vô cùng khó khăn.
Trước tình thế đó, Bộ Tư lệnh quyết định cấp tiền cho lực lượng Công an vũ trang Vĩnh Linh tự mua vải về để may cờ. Anh Lãng lại được phân công nhiệm vụ đi mua vải mang về thuê Hợp tác xã May Nam Hồng ở xã Vĩnh
Toan tính đủ mọi phương cách để làm sao giảm được chi phí trong việc may cờ, và thế là Trung sĩ Nguyễn Đức Lãng đã tìm mọi cách để may cờ. Khi đã may thạo, ngay lập tức đơn vị điều động cho anh một chiếc máy may Liên Xô. Những lá cờ đầu tiên anh may có chút ít bỡ ngỡ, nhưng sau đó thì "mô cũng vô nấy cả".
Cứ trung bình 5 ngày anh Lãng hoàn tất việc may 2 lá cờ, mỗi lá may hết 122 mét vải màu đỏ, 12 mét vải màu vàng. Do điều kiện chiến tranh không mua được vải xoa, anh phải may cờ bằng vải của dệt Nam Định loại khổ 80, ký hiệu 152, trên mỗi biên cờ phải may đến 5-6 đường chỉ, mới hy vọng chịu nổi sức gió. Mỗi lá cờ thời đó, sau khi may xong, đóng gói thì cân nặng đến 12kg.
Ngày tháng cứ qua đi như thế, để ngọn cờ Tổ quốc mãi mãi tung bay trên bờ sông giới tuyến, anh Lãng đã phải ngày đêm cần mẫn may cờ. Thời đó, cứ gần một tháng là thay một lá cờ mới, nhưng mùa gió Lào thì 15 ngày đã phải thay cờ. Vậy là mỗi năm anh Lãng phải may từ 10 đến 12 lá cờ diện tích 96 m2.
Những năm 1967-1968, địch ngày càng leo thang ra đánh phá miền Bắc ác liệt, vùng giới tuyến Vĩnh Linh trở thành vành đai lửa, là tọa độ số một trong kế hoạch oanh kích của quân thù. Sau mỗi cuộc bắn phá ác liệt, lá cờ Tổ quốc bên dòng sông Bến Hải lại "bị thương".
Vậy là, một phần phải may lại cờ mới, một phần những lá cờ bị rách thì nhờ vào đôi bàn tay khéo vá và tấm lòng của mẹ Nguyễn Thị Diệm, một người mẹ Việt Nam vĩ đại đã cống hiến toàn tâm, toàn lực của đời mình cho cách mạng, cho dân tộc… cho đến khi nhắm mắt, ao ước lớn nhất của mẹ cũng chỉ là được an táng ngay bên bờ sông Bến Hải, nơi có cột cờ Tổ quốc trụ vững giữa mưa bom bão đạn của kẻ thù.
Ngoài công việc may, vá để những ngọn cờ đỏ sao vàng thường xuyên tung bay trên vùng trời giới tuyến, anh Lãng còn nhận nhiệm vụ may những lá cờ cỡ 4m x 6m để cung cấp cho các Đồn Mũi Si, Cửa Tùng, Cù Bai, Huỳnh Thượng, Phát Lát… Những phút rảnh rang, anh còn may vá áo quần cho anh em đồng đội. Vì vậy mà anh được mọi người rất mực thương mến, tin yêu.
Năm 1968, anh được cấp trên cử ra Bắc để tập huấn lớp quân chính kéo dài 6 tháng, sau đó trở về Vĩnh Linh tiếp tục nhiệm vụ may cờ Tổ quốc cho đến năm 1973. Năm 1974, chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng miền Nam, anh được tổ chức điều động vào với chiến trường khu 5 và được bổ sung vào lực lượng An ninh Phú Yên.
Sau ngày miền
Bây giờ thì chàng trai Nguyễn Đức Lãng, người may cờ bên sông giới tuyến năm xưa, đã thành một ông già qua tuổi "thất thập cổ lai hy". Từ ngày nghỉ hưu đến giờ, ông vẫn tham gia công tác ở địa phương, nhiều năm liền ông là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Sau đó, ông nghỉ để về làm Bí thư Chi bộ khu phố nơi ông cư ngụ. Anh con trai cả của ông là kỹ sư, nay là Giám đốc Xí nghiệp Nước Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Người con trai kế nay là Thiếu tá Công an, công tác tại Phòng An ninh Kinh tế - Công an Quảng Trị, đầu tháng 9/2010 được cơ quan tín nhiệm cử đi học cao cấp chính trị tại Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực III (Đà Nẵng). Cô con gái út là giáo viên ngoại ngữ ở Trường Nguyễn Du - TP Đông Hà. Cả ba người con ông đều đã xây dựng gia đình và sinh sống bình yên bên cạnh ông bà.
Chiến tranh đã dần trôi về quá khứ rất xa, nhưng khi gợi nhớ về những câu chuyện của hơn 50 năm trước, ông vẫn hào sảng như những ngày đang là thanh niên dồi dào sức trẻ. Kể chuyện cho tôi nghe, ông vẫn nhớ như in từng "đường kim, mũi chỉ", con tim vẫn sôi nổi như thuở nào khi nói về lá cờ Tổ quốc, nói đến niềm tự hào của dân tộc Việt


