Cảm nhận của một kẻ hậu sinh lần đầu đối diện với gia tài kịch nghệ Lưu Quang Vũ:

"Người chết nối linh thiêng vào đời..."

Thứ Sáu, 11/10/2013, 16:13
Như mọi kẻ viết lách hèn mọn khác trong cuộc đời này, tôi luôn tránh né dùng động từ “chết” (lạ thật đấy, chết là một trạng thái tưởng chừng lặng im, thế mà nó lại là một… động từ) để nói về sự ra đi vĩnh viễn của những bậc tiền bối, đặc biệt là những bậc tiền bối cỡ thiên tài. Nhưng rồi xem kịch của ông, lần đầu tiên chạm vào cái vỏ hiện thực trần trụi, đau đớn trong những vở kịch của ông, tôi bỗng tự tin đến kỳ lạ khi dùng động từ này. Vì tôi tin rằng, với ông, sống - chết là cái mảnh hiện thực trần trụi tất yếu của luân thường - cái mảnh hiện thực chẳng có gì phải tránh né và e sợ. Điều e sợ có chăng nằm ở chỗ: Con người ta sống như thế nào và chết như thế nào…

1. Phải rồi, thế giới kịch của ông là một thế giới trần trụi đến cùng cực. Một nhân vật Châu phải đấu tranh với những người bạn, những người thầy, thậm chí là cả ông bố đẻ ra mình để bảo vệ những lý tưởng cao đẹp trong trái tim tuổi 17 (vở Mùa hạ cuối cùng) một ông Trương Ba phải đấu tranh với những dằn vặt nghiệt ngã giữa phần hồn với phần xác trong suốt một quãng đời người không ra người, ma không ra ma (vở Hồn Trương Ba da hàng thịt); một nhân vật Luân phải đấu tranh giữa lòng hiếu thảo của một đứa con  với bốn bề trại giam của một tên tử tù (vở 2000 ngày oan trái) và những anh bộ đội trẻ tuổi phải đấu tranh giữa nề nếp, kỷ cương của những người chiến sĩ với sự thật, tình người và công lý của những trái tim biết run lên vì sự sống (vở Lời thề thứ 9). Trong cái hiện thực trần trụi đến nghiệt ngã ấy, ở cuộc chiến khôn lường, hiểm ác ấy, các nhân vật của Lưu Quang Vũ luôn bị đẩy vào tận cùng của cả những bi kịch riêng lẫn bi kịch chung.

Tôi không biết có bao nhiêu lớp khán giả tiền bối ngồi chật kín trong rạp Công Nhân,  Đại Nam hay nhà hát Tuổi Trẻ những ngày qua đã nhìn thấy mình hoặc một góc nhỏ nào đó của mình trong những bi kịch ấy. Tôi cũng không biết có bao nhiêu chàng trai, cô gái tuổi 17 hôm nay đồng cảm, xót xa với những bi kịch mà có thể là trước đó họ chưa từng ngờ tới.

Nhưng tôi biết có rất nhiều những lồng ngực trong rạp hát đã nghẹn lại khi cậu học sinh tên Châu trong nỗi chán chường, tuyệt vọng vì cuộc đấu tranh cho lý tưởng đã thốt lên: “Với tôi bây giờ là vô nghĩa hết!” (Mùa hạ cuối cùng). Tôi biết, có rất nhiều những giọt nước mắt đã rơi xuống khi nhân vật Đôn trong cái khoảnh khắc bất mãn tới mức không kiểm soát nổi mình đã đau đớn bảo rằng: “Đất nước mình không tươi đẹp, nhân dân mình không anh hùng” (Lời thề thứ 9).

Vợ chồng Lưu Quang Vũ- Xuân Quỳnh.

Dĩ nhiên, đấy là một suy nghĩ phiến diện trong một khoảnh khắc phiến diện của một con người đang bị đẩy vào ngõ cụt của công lý, nhưng nó là cái phiến diện đáng để suy nghĩ, đáng để trăn trở nếu chúng ta thực sự muốn đấu tranh cho những giá trị tốt đẹp trong cuộc đời này.

Chứng kiến những lời thoại như thế này, đối diện với những bi kịch như thế, chúng ta dường như không thể nhận ra sự khác biệt dù là nhỏ nhất giữa thế giới kịch của Lưu Quang Vũ với thế giới thật mà chúng ta đang sống. Thế nên từ sân khấu ra đến cuộc đời, từ những mảnh hiện thực trần trụi trong kịch đến những biến thiên phức tạp trong cuộc sống mà chúng ta đã quan sát, đã lắng nghe, đã chiêm nghiệm, cảm giác rằng tác phẩm của Lưu Quang Vũ đã có một giá trị thức tỉnh lớn lao.

2. Là hiện thực nhưng sâu hơn hiện thực, là sự sống nhưng sâu hơn sự sống, là những khắc khoải thời đại nhưng sâu hơn những khắc khoải thời đại, các tác phẩm của Lưu Quang Vũ đã chạm vào những cặp phạm trù thuộc về khát vọng sinh tồn của loài người nói chung. Đó là cặp phạm trù lẽ phải, nhân cách, lòng trung thành với sự giả dối, thói xu nịnh, cầu toàn trong Mùa hạ cuối cùng; đó là cặp phạm trù hình thức với nội dung, làm sai và sửa sai trong Hồn Trương Ba da hàng thịt; đó là cặp phạm trù giữa tính người và tính quỉ, giữa ánh sáng  tình yêu và sự thù hận mù quáng trong Nàng Sita.

Tôi không thể quên được một hình ảnh sân khấu cực kỳ ấn tượng trong Mùa hạ cuối cùng khi cô giáo Thuý vừa quay quả địa cầu đặt trên bàn thầy giáo Hiển, vừa khuyên thầy giáo Hiển: “Mỗi chúng ta chẳng là gì hết. Anh nhìn  xem, cái thành phố nơi ta đang ở chỉ là một chấm nhỏ xíu trên quả địa cầu…Ta chỉ là con người bé nhỏ trong thành phố ấy... Mà quả địa cầu này cũng chỉ là một chấm nhỏ trong vũ trụ vô tận… Chúng ta gắng sức mà làm gì!”. Cô giáo Thuý chỉ vừa dứt lời thì thầy giáo Hiển đã dõng dạc thốt lên: “Không!”, và cùng lúc đó, bàn tay thầy giáo Hiển đã đặt mạnh lên quả địa cầu, khiến quả địa cầu đang quay cũng phải dừng ngay lại.

Phải nói lời thoại của Lưu Quang Vũ kết hợp với những hình ảnh giàu biểu cảm, giàu triết lý được dàn dựng bởi đạo diễn NSƯT Chí Trung đã tạo nên một khoảnh khắc sân khấu cực kỳ ấn tượng. Cái khoảnh khắc mà cả ngàn người xem rào rào vỗ tay, trong đó có rất nhiều người vừa vỗ tay lại vừa lấy tay lau nước mắt. Cái khoảnh khắc mà người ta tin vào sự chiến thắng của lẽ phải. Và tôi vẫn nghĩ, một khi người ta đã đồng cảm, đã rung động, đã tin yêu thì khi rời rạp hát này để trở về với cuộc sống đời thường - một cuộc sống bon chen, bụi bặm, không ít thì nhiều, hình ảnh bàn tay thầy giáo Hiển, bàn tay chặn đứng đà quay của quả địa cầu cùng một tiếng “không” hiên ngang, dõng dạc sẽ choán ngợp, sẽ ám ảnh người ta. 

Một cảnh trong vở Lời thề thứ 9.

Tôi cũng không thể quên được cái khoảnh khắc đối thoại giữa tâm hồn Trương Ba và thể xác anh hàng thịt trong Hồn Trương Ba da hàng thịt - khoảnh khắc mà ông Trương Ba đã quyết định chọn cái chết để được sống đích thực là mình với cả phần hồn lẫn phần xác (dẫu đã tiêu tan). Khoảnh khắc ấy, Lưu Quang Vũ đã để Trương Ba thốt lên một câu thật gần gũi mà thăm thẳm, thật trực diện mà  triết lý: “Tôi phải là tôi thôi”.

Tôi tin là câu nói ấy sẽ đánh động cả trăm ngàn bộ óc, cả trăm ngàn trái tim, cả trăm ngàn con người đang hiện diện trong nhà hát thời điểm ấy. Những con người mà vì lý do này, lý do khác đã không thể sống đúng là mình trong cuộc sinh nhai. Những con người mà dẫu không phải gửi phần hồn thanh tao nho nhã của mình ở cái xác của một anh hàng thịt như ông Trương Ba thì cũng đang gửi phần hồn ấy vào xác của một kẻ giả dối, một kẻ xu nịnh, một kẻ sẵn sàng nói không thành có để thuận đà tiến thân.

Khi đối diện với tuyên ngôn “Tôi phải là tôi thôi” của Trương Ba, tự nhiên tôi lại nhớ đến tôi ở cái tuổi 20 vừa chập chững ra trường (tuổi 20, chứ không phải 20 tuổi), khi một buổi tối nọ, tôi và một cậu bạn thân đứng ở cầu Long Biên (Hà Nội) để nói về tương lai mỗi đứa. Hôm ấy, cậu bạn thân bảo rằng, cậu đang sưu tầm một loạt các cuốn sách đối nhân xử thế, đại loại như “phải làm sao cho vừa lòng sếp”, “phải làm sao cho vừa lòng đồng nghiệp”, và cho rằng đấy là bửu bối để vào đời. Tôi thì vẫn “trung trinh mù quáng” với cái lý lẽ rằng: “Con người mình như thế  nào, hãy sống y như thế”. Kể từ buổi tối đó, hai đứa chúng tôi mỗi đứa đi theo một con đường - con đường mà bây giờ tôi vẫn lận đận (nhưng là cái lận đận đầy kiêu hãnh trong suy nghĩ của tôi) với một sự nghiệp viết lách hèn mọn, còn cậu bạn thì giàu có, thành đạt (nhưng là sự giàu có thành đạt đầy toan tính) với sự nghiệp riêng của mình. Lâu lắm rồi chúng tôi không gặp nhau, không nghĩ đến nhau, không nuối tiếc nhau cho đến trước khi tôi xem vở Hồn Trương Ba da hàng thịt.

Tự nhiên tôi ao ước: Ước gì K - tên cậu bạn sẽ đi xem vở kịch này, sẽ đau đớn, hạnh phúc với cái đau đớn, hạnh phúc của nhân vật chính trong vở kịch này. Và nếu như thế, biết đâu cậu sẽ sống khác với bây giờ nhiều lắm?

3. Ai nhỉ, hình như chính Lưu Quang Vũ từng viết những câu thơ gần gũi mà rất tài hoa rằng: “Mười bảy tuổi lòng ai không hồi hộp/ Ngồi trong rạp hát đợi màn lên”. Ai cũng biết tuổi 17 của cái thế hệ a - còng này, những chàng trai, cô gái chỉ hồi hộp với I Phone, I Pad, với những bộ phim Hàn Quốc diễm tình, chứ mấy ai hồi hộp với cái cảnh… đợi màn lên trong rạp hát. Ấy thế mà tôi đã thấy rất nhiều cô cậu tuổi 17 chăm chú xem, chăm chú cảm thán, chăm chú bình luận về những vở kịch Lưu Quang Vũ trong những ngày hội diễn vừa qua. Tôi cũng thấy rất nhiều các cô các bác, các ông các bà - những người mà có lẽ lâu lắm rồi mới lại có cảm giác hồi hộp đến rạp, hệt như cảm giác hồi hộp của tuổi 17 ngày nào.

Thế mới biết, Lưu Quang Vũ đã chết, nhưng Lưu Quang Vũ vẫn có thể giúp cho rất nhiều tuổi 17 được sống lại, và giúp cho cả tuổi 17 của một năm 2013 này được sống trong một thế giới kịch nghệ đáng sống, đáng chiêm nghiệm, để từ đó phấn đấu cho một sự sống tốt đẹp hơn.

Ôi, những xúc cảm tuổi 17, những bước chân tuổi 17 (dẫu là tuổi 17 của một cô/cậu tuổi 17 đúng nghĩa hay tuổi 17 hồi sinh của những… ông bà 80) đã nô nức tới rạp, đã chen lấn nhau trong rạp, đã hồi hộp khóc cười trong rạp để say sưa mê đắm với thế giới kịch nghệ Lưu Quang Vũ.

Hơn lúc nào hết và hơn khi nào hết, tuổi 17 ấy đã cảm nhận một cách rõ ràng rằng: Có một người chết đang nối linh thiêng vào sự sống của mình, của một năm 2013 đầy hy vọng!

(*) Lời bài hát "Nối vòng tay lớn" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Phan Đăng
.
.
.