Nghịch lý Nietzsche

Thứ Tư, 05/06/2013, 11:55
Cho tới năm thứ 13 của thế kỷ XXI, Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844-1900) vẫn là một trong những nhà triết học độc đáo và bí ẩn nhất trong lịch sử. Và những vấn đề mà ông từng đặt ra vẫn đang tiếp tục ám ảnh tâm trí của loài người. Hiểu đúng ông không dễ mà có lẽ phải cần tới những khoảng thời gian dài. Sinh thời, triết gia người Phổ này từng nói rằng ông muốn “tam bách dư niên hậu” sẽ trở thành ngôi sao sáng lóe trong tư duy nhân loại.

Nietzsche sinh ra trong một gia đình mục sư tại thị trấn Recco gần Leipzich thuộc tỉnh Saxony của  nước Phổ. Nhà triết học tương lai đã mồ côi cha từ khi chưa đầy 5 tuổi. Một năm sau đó, em trai ông cũng bị mất sớm…

Sau này, Nietzsche đã viết: “Cha tôi là một người gầy mảnh, tốt bụng và ốm yếu, với định mệnh phải biến mất không để lại một dấu vết - ông đã là một ký ức đẹp về cuộc sống hơn là chính bản thân cuộc sống”. Chính người cha qua đời vì bệnh não đã truyền cho Nietzsche một sức khỏe kém. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã mắc hết tật nọ tới chứng kia, đau đầu, đau dạ dày, có lúc cận thị nặng đến lúc gần như bị mù… Thậm chí đã có không chỉ một thời điểm mà ông buộc phải tính tới chuyện viết sớm di chúc…

Nietzsche đã buộc phải tuân thủ một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Ông không uống rượu, không hút thuốc lá. Ông đã phải lang bạt khắp châu Âu để tìm nơi tá túc có khí hậu thích hợp với thể trạng của mình. Rất khó tin rằng với tình hình sức khỏe như thế, ông lại vẫn có đủ lời lẽ lạc quan ca tụng nếp sống lành mạnh và trau dồi thể lực.

Nietzsche tâm sự: “Để đấu tranh cho cuộc sống nên tôi buộc phải dị ứng với triết lý bi quan”. Tuy nhiên, sự tương phản quá lớn giữa cách sống của Nietzsche và những gì ông viết đã khiến nhiều nhà nghiên cứu thẳng thừng nhưng không ác ý nhận xét rằng, ông đã sống “quá điệu nghệ”…

Hóa ra, nhà triết học dám đứng lên tuyên chiến với những giáo lý nghìn năm và tung hô ý tưởng siêu nhân trong đời thường chỉ là một người đàn ông khiêm nhường, nhỏ nhẹ và rất lễ độ với mọi người, đúng với phong cách cần có của một giáo sư ngữ văn cổ điển (Nietzsche nhận được học vị này từ năm mới 24 tuổi, khi còn là một sinh viên. Chàng giáo sư trẻ đã không chia sẻ nỗi vui mừng hãnh diện của gia đình: “Chuyện vặt mà, có nghĩa gì đâu khi thế giới có thêm một con tốt hỉn!”).

A.Ril, một người sống cùng thời với nhà triết học, đã mô tả: “Ông có thói quen nói khẽ khàng, một dáng đi thận trọng, trầm tư, nét mặt bình thản và đôi mắt nhìn xoáy sâu như thể đang dõi phương xa, một tính cách bình tĩnh. Có thể dễ dàng bỏ qua ông vì trông ngoại hình của ông chẳng có gì nổi bật cả. Trong cuộc sống bình thường, ông trở nên khác biệt bởi phong cách cực kỳ lịch thiệp, gần như rất dịu dàng nữ tính và một tính cách luôn luôn điềm đạm. Ông thích lối cư xử tinh tế và trong lần gặp đầu tiên dễ làm ta ngạc nhiên  bởi thái độ trịnh trọng có phần căng cứng của mình”.

Cách giao đãi như thế đã khiến ông bị đặt cho biệt danh “vị thánh”. Richard Wagner, người bạn thân nhất của Nietzsche, thậm chí còn không dám kể chuyện tiếu lâm mỗi khi nhà triết học có mặt ở bên cạnh. Bởi lẽ đã có lần xảy ra chuyện, khi Wagner buột miệng tung ra một câu chuyện cười yêu thích của mình, Nietzsche đã đỏ nhừ cả mặt lên và nhìn chằm chằm vào nhà soạn nhạc vĩ đại với sự kinh ngạc đến mức Wagner không còn biết phải chui xuống lỗ nẻ nào nữa.

“Tôi sẵn sàng mất cả trăm ngàn mark để có thể cư xử được như cái anh Nietzsche này,” - nhà soạn nhạc có lần đã thốt lên như thế. Nietzsche luôn khiến cho những người bình dân thương mến. Ngay cả những người phụ nữ bán nho cũng luôn thích chọn cho ông những quả nho ngọt nhất và ông trong sâu thẳm tâm can rất lấy làm thích thú chuyện này.

Tuy nhiên, ông  lại cảm thấy đau khổ tột độ vì ông buộc phải che giấu những ý tưởng của mình ngay cả đối với bạn bè. Bởi vì họ không hiểu được chúng. Đến như Wagner, người treo ảnh chân dung Nietzsche trong phòng ngủ  và cũng là người mà ông coi tình bạn với anh là “chiến thắng duy nhất trong cuộc sống” cũng đã không coi chúng là chuyện nghiêm túc.

Wagner lớn hơn Nietzsche 32 tuổi và đã đòi hỏi ở người bạn trẻ của mình một tấm lòng trung thành gần như của đệ tử. Tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” của triết gia đã không cho phép Nietzsche cam chịu điều đó lâu dài và ông đã chối bỏ người bạn vong niên để duy trì trạng thái cương cường trong tư duy của mình.

Nỗi cô đơn của Nietzsche đã là một trạng thái tuyệt đối. Sự hiện diện của  bất cứ một người thân thích nào cũng không làm ông vui lên. Ông không thể tạo dựng được một sự thân mật gần gũi nào với phụ nữ - “Muốn được thế chắc tôi sẽ phải nói dối…”.

Nhưng Nietzsche đã không  bao giờ muốn nói dối. Ông muốn tìm một người phụ nữ có thể hoàn toàn đồng điệu với những xúc cảm của ông và trở thành hiện thân sống động những tư tưởng mà ông theo đuổi. Một lần tại Nice, bất chợt nhìn thấy một mỹ nhân trẻ đi dạo, “nhẹ nhàng như chú dê con”, nhà triết học đã bị hút hồn bởi biểu tượng tinh khiết và ngây thơ đến tột đỉnh đó.

Nhưng ông đã nhận thức được quá rõ sự nguy hiểm trong triết học của mình, để quyết định kết hôn với cô: “Hiển nhiên là với ta được có một nhan sắc tuyệt vời nhường ấy bên cạnh mình sẽ là một phước lành tinh khiết, nhưng liệu đó có là phước lành đối với nàng không? Chẳng lẽ ta với những ý tưởng của mình lại không biến nàng thành bất hạnh và chẳng lẽ trái tim ta không tan nát ra khi nhìn thấy sự đau đớn đó của mỹ nữ đáng yêu này? Không, ta sẽ không cưới nàng!”.

Chỉ một lần duy nhất trong đời Nietzsche có dấu ấn của phụ nữ. Năm 1882, nhà triết học đã tình cờ gặp cô con gái của một ông tướng tới từ St. Petersburg. Tên nàng là Lou von Salome. Theo lời bà Elizabeth, em gái của Nietzsche, đó là biểu tượng cá thể hóa triết học của người anh trai bà. Nietzsche đã hai lần ngỏ lời cầu hôn nhưng cả hai lần đều bị từ chối.

Rất có thể, bản tính đam mê cháy bỏng của Nietzsche đã làm người thiếu nữ Nga kinh hãi. Thêm vào đó, cô em gái Elizabeth lại đố kị với mỹ nữ mà anh mình mê nên đã thêu dệt đủ trò để chống lại Lou. Chính Elizabeth đã viết cho Lou một lá thư đầy những lời lẽ nặng nề để buộc tội cô gái Nga “nhạo báng” Nietzsche. Rốt cuộc  là mỹ nhân Nga đã tự ái và đoạn tuyệt với gia đình nhà triết học…

Đoạn đời dằng dặc những cô đơn của Nietzsche đã kết thúc ngày 3/1/1889, khi ông bị mất trí trên đường phố trong một cơn đột quị bất ngờ. Từ đó cho tới khi trút hơi thở cuối cùng ngày 25/8/1900, ông không bao giờ thoát được ra khỏi cõi u tối mịt mờ của trí tuệ nữa. Chính thảm kịch này khiến cho những ai ác cảm với triết học của Nietzsche tưởng như một trò đùa của kẻ điên. Trong khi đó thực ra, ít ai nghi ngờ giá trị to lớn của di sản tư duy mà Nietzsche đã để lại cho nhân loại…

Sinh thời, Nietzsche từng nói: “Tôi biết quá rõ rằng, vào cái ngày mà nhân thế bắt đầu hiểu tôi, tôi sẽ không nhận được bất kỳ một xu nào”. Thế kỷ XIX đã không cần Nietzsche. Ông từng phải rất mất công để thuyết phục các ông chủ nhà xuất bản in sách của ông. Lắm lúc nhà triết học đã phải bỏ tiền túi ra để in các tác phẩm triết học của mình. Nhưng độc giả đã lần lữa không chịu mua sách của Nietzsche. Trong vòng 10 tháng sau khi được phát hành mà chỉ có 114 cuốn Phía bên này thiện và ác được mua, mà đó lại là một trong những tác phẩm hay nhất của Nietzsche.

Khi còn sống, Nietzsche đã phải tặng và cũng chỉ tặng được cho bạn bè thân 7 tập sách in phần thứ tư của trường ca Zarathustra - mà đây chính là tác phẩm ở về sau, ở những năm đầu của thế kỷ XX, được đánh giá sánh ngang về số lượng phát hành với Kinh Thánh.

Trong một lá  thư gửi cho bạn bè, Nietzsche viết: “Zarathustra của tôi phải trở thành một tác phẩm khó hiểu là vì nó viết về những trải nghiệm mà tôi đã không thể chia sẻ với bất cứ ai được. Giá mà tôi có thể diễn tả thành lời cho bạn hiểu nỗi cô đơn mà tôi đang cảm thấy! Kể cả giữa những người đang sống và cả những người đã chết, tôi đều không tìm thấy ai mà tôi cảm thấy đó là ruột thịt cùng tôi!”.

Có vẻ như trong thế kỷ XX mọi sự đã thay đổi. Mỗi người tùy theo góc độ của mình có một cách hiểu riêng về Nietzsche. Thực tế cho thấy, hầu như không có nhà triết học lớn nào trên thế giới trong thế kỷ vừa qua đã thoát ra khỏi được ảnh hưởng của Nietzsche.

Triết lý của ông đã sinh ra chủ nghĩa hiện sinh, tạo nên một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của tâm lý học, ngôn ngữ học, ngữ văn… Tuy nhiên, ông cũng đã bị chế độ Đức Quốc xã lợi dụng, biến thành biểu tượng của chúng, mặc dù bản thân ông là người nhất quán chống lại chủ nghĩa bài Do Thái và chủ nghĩa dân tộc Đức…

Nietzsche, người đã dự đoán về niềm vinh quang của mình một cách đầy tiên khải, đã viết trong lời nói đầu của tác phẩm Antichrist: “Chỉ ngày kia mới thuộc về tôi. Có một số người chỉ được sinh ra sau khi  đã chết…”. Nhiều triết gia đương đại dự đoán rằng, có thể trong thế kỷ XXI này, tôi muốn tin rằng trong thế kỷ XXI, sẽ có thời điểm gọi là “ngày kia ấy”, khi mà triết học của Nietzsche sẽ được thấu hiểu đúng với thực chất và tầm cỡ của nó theo hướng hữu ích nhất cho sự phát triển của nhân loại và nền văn minh…

Danh Phúc
.
.
.