Lý thuyết công cụ và sản phẩm của nhà lý luận –phê bình

Thứ Hai, 12/01/2009, 09:00
Mới rồi, trên Văn nghệ Quân đội số 9 (6/2008) có đăng bài "Tác phẩm văn chương như một sinh thể tinh thần" của PQT. Phải nói rằng tiếp nhận cho hết số chữ nghĩa lằng nhằng của bài này quả là một khổ nạn, đọc tới hai lần vẫn chưa hiểu tác giả quan niệm thế nào là "một sinh thể tinh thần", tại sao tác phẩm văn học là "một sinh thể tinh thần"?

Rồi tôi lại thấy PQT dường như đã có một liệt kê thiếu rạch ròi khi ông viết: "Trước nay, quan niệm văn chương thật đa dạng, nhưng nếu nhìn từ các yếu tố tạo nên đời sống văn chương thì có thể quy vào 5 hướng quan niệm chính sau: 1. Xu hướng xã hội (như quan niệm của R.Stone: "Văn chương là sự thật được hiển lộ và được nhận diện"); 2. Xu hướng tâm lý (như quan niệm của G.Santayana: "Văn chương là bản năng sáng tạo khi ý thức được mục đích của bản thân");

3. Xu hướng ý thức (như quan niệm của Nguyễn Đăng Mạnh: "Văn chương là một hình thái tư tưởng nghệ thuật bằng ngôn ngữ của con người"); 4. Xu hướng tiếp nhận (như quan niệm: "Tác phẩm văn chương là một quá trình"); 5. Xu hướng bản thể (như quan niệm S.Langer: "Văn chương là sự sáng tạo hình thức ký hiệu tình cảm nhân loại")…".

Tôi nói không rạch ròi vì trong năm xu hướng quan niệm ông khái quát (không rõ đã đầy đủ chưa, không biết có chính xác là quan niệm văn chương hay không?) có bốn xu hướng ông dẫn ra tác giả và trích dẫn ý kiến, riêng "xu hướng tiếp nhận" lại không thấy giới thiệu tác giả là ai, chỉ có trích dẫn?

Điều này làm tôi liên tưởng tới người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra quan niệm "tác phẩm văn học như là quá trình" là PGS TS Trương Đăng Dung trong bài viết trên Tạp chí Văn học năm 1995, sau đó là cuốn sách rất đáng đọc của ông cũng có tựa đề như vậy ("Tác phẩm văn học như là quá trình", NXB Khoa học xã hội, H.2004). Phải chăng PQT dẫn ý kiến của PGS TS Trương Đăng Dung nhưng không muốn dẫn tác giả (Lưu ý: Nếu đúng vậy, quan niệm "tác phẩm văn chương là một quá trình" lại không đồng nghĩa với quan niệm "tác phẩm văn học như là quá trình", thưa ông)?

Phải chăng PQT lượm lặt của tác giả nào đó trong sách báo nước ngoài (Lucác) mà không dẫn nguồn gốc? Phải chăng ông mập mờ để chứng tỏ là người uyên thâm và người đọc muốn biết thì phải tự… "mò"? Cái lối đưa ra một (vài) định đề rất hoành tráng rồi loanh quanh huy động ý kiến người khác để chứng minh ý kiến của mình là lối viết khá phổ biến của một số người làm lý luận - phê bình ở Việt Nam lâu nay.

 Đọc họ thường chỉ thấy loảng xoảng những "ông ốp", "ông ép", tuyệt nhiên không biết ý kiến riêng của họ là gì. Thà ghi phéng tên thể loại là tổng thuật, là lược thuật, hay cái gì na ná như thế còn ra một nhẽ, đằng này họ trích dẫn tràn lan, mà cứ căn cứ vào tình trạng lười đọc sách hiện nay, tôi ngờ rằng không ít người đã dẫn theo người khác hơn là chính thức đọc văn bản? 

Chuyện trên làm tôi nhớ lại sự kiện gần 20 năm trước, vào cái ngày Lê Ngọc Trà bị "oánh" cho tơi tả chỉ vì đã đưa ra vấn đề "nghiền ngẫm về hiện thực". Ngày ấy đọc báo thấy người ta kịch liệt phê phán anh, tôi rất ngỡ ngàng, mà người ta lại nhân danh lý luận phản ánh để phê phán anh mới lạ chứ.

Từ bản chất đích thực của lý luận phản ánh, phải nói rằng Lê Ngọc Trà nói đúng. Ý kiến của anh là vận dụng lý luận phản ánh vào một lĩnh vực hoạt động xã hội - tinh thần cụ thể, giúp người viết tránh kiểu phản ánh sao chép hay chụp ảnh, giúp người phê bình không nhăm nhăm lấy hiện thực cuộc sống để đánh giá hiện thực tác phẩm, hơn thế nữa, qua đó khẳng định cá tính sáng tạo của nhà văn…

Năm 1992 vào công tác ở TP Hồ Chí Minh, tôi tìm đến nhà Lê Ngọc Trà, phần để làm quen, phần để chia sẻ với anh. Trò chuyện một lúc, tới chuyện "nghiền ngẫm về hiện thực", Lê Ngọc Trà chỉ lên tấm hình của cha anh trên bàn thờ và bảo tôi: "Cha mình là liệt sĩ, làm sao mình có thể phản bội sự nghiệp của cha mình được!". --PageBreak--

Câu nói của anh đã làm tôi buồn rồi nhớ mãi. Và tôi càng tin anh đã viết rất chân thành, không vẩn lên trong đó một ý đồ gì thiếu trong sáng. Gần đây qua một cuộc điện thoại, anh kể với tôi rằng, người đứng sau "trận đánh" ngày trước đã gọi điện cho anh và bảo: "Hồi ấy ông nói đúng!".

Than ôi, sau bao nhiêu năm mới nói ra điều đó, và liệu rồi người ta có biết sau cú "sốc" kia, Lê Ngọc Trà hầu như ít viết. Tương tự như vậy với Huỳnh Như Phương, các anh viết như các nhà lý luận - phê bình có tri thức, nghiêm túc, có trách nhiệm và sắc sảo, song không hiểu tại sao lại trở thành đối tượng phê phán của một số nhà lý luận - phê bình mà chỉ xét về nhân cách, họ đã kém các anh một bậc.

Còn về tri thức, cứ cho rằng họ tự giác phê phán, thì thử hỏi với một vấn đề lý luận như vậy họ còn hiểu không đến nơi đến chốn thì khả năng thực tế của họ như thế nào?

Vốn có nghề nghiệp xuất thân là văn hóa học, nên từ ngày theo đòi lý luận - phê bình, tôi vẫn giữ thói quen đọc sách vở liên quan tới văn hóa học, từ văn học, nghệ thuật học tới triết học, dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học… qua đó, tôi rút ra kết luận (có thể chưa chính xác?) là trong giới khoa học xã hội - nhân văn ở Việt Nam, có lẽ các nhà lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học là người sử dụng kiến thức triết học chỉ đứng sau các tác giả triết học.

Đọc sách, tiểu luận, bài lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học hay gặp các khái niệm đại loại như vật chất và ý thức, ý thức xã hội và tồn tại xã hội, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, rồi nhận thức luận, rồi mâu thuẫn, rồi lượng đổi chất đổi…

Gần đây, giới lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học sử dụng các khái niệm trên ít hơn, song lại xuất hiện quan niệm triết học của M.Heidegger, F.Nietzche, S.Freud, K.G.Jung, J.P.Sartre, F.Jullien, J.Derrida…

Tuy không coi việc sử dụng tri thức triết học trong lý luận - nghiên cứu - phê bình là không thích hợp, nhưng tôi vẫn nghĩ vai trò của triết học đối với lý luận - nghiên cứu - phê bình trước hết không phải ở chỗ các nhà triết học nói cái gì, các nguyên lý, phạm trù của triết học ra sao, mà ở chỗ nó cung cấp cho người làm lý luận - nghiên cứu - phê bình một phương pháp luận khoa học để thực hành thao tác nghề nghiệp.

Dù thế nào thì triết học cũng là khoa học về tư duy, nó không thể trực tiếp thay thế vai trò của các khoa học cụ thể khi nghiên cứu các đối tượng cụ thể. Dù nhà lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học thành thạo triết học đến đâu thì điều đó cũng sẽ giảm thiểu ý nghĩa nếu họ không nắm vững các nguyên tắc có tính chất phương pháp luận là khách quan - toàn diện - lịch sử - cụ thể - phát triển trong nghiên cứu, phê bình.

Biến tri thức triết học thành "vũ khí" của lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học, xét đến cùng: có thể một mặt là bộc lộ sự yếu kém về lý luận chuyên ngành của các nhà nghiên cứu - phê bình, một mặt có thể là biểu hiện của tình trạng chưa có quan niệm đúng đắn về quan hệ giữa các bộ môn khoa học (nhất là quan hệ giữa khoa học về tư duy với khoa học cụ thể) để qua đó rút ra kết luận về đối tượng từ những góc độ khác nhau?

Nhìn rộng ra, vấn nạn như của lý luận - nghiên cứu - phê bình văn học còn xuất hiện trong một số công trình nghiên cứu thuộc khoa học khác, mà điển hình gần đây là cuốn "Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta".

Thoát ly ra khỏi các nguyên tắc phương pháp luận khoa học trong nghiên cứu, cuốn sách này chỉ có ý nghĩa duy nhất là làm nhiễu loạn nhận thức của công chúng về các vấn đề lịch sử có liên quan với nguồn gốc dân tộc.

Sau đó đọc cuốn "Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử", tôi kinh ngạc vì hai vị nghiên cứu văn học là PGS TS Đoàn Lê Giang và PGS TS Nguyễn Phạm Hùng đã dẫn lại hai sử liệu chưa được kiểm chứng từ cuốn "Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta", biến chúng thành sử liệu hiển nhiên, rằng: "Phật giáo truyền vào nước ta từ thời Hùng Vương (khoảng thế kỷ III - II tr.CN) thông qua con đường Chiêm Thành", rằng "Nhiều thể loại văn học thời Lý - Trần cũng đã từng có mặt ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc, tuy số lượng rất ít ỏi, nhưng không hẳn là hoàn toàn "non kém" hơn thời Lý - Trần, như: Thư từ: Sáu bức thư tranh luận về đạo Phật của Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu…".

Tiếp nhận máy móc và không đặt mình trong tâm thế phản biện, đọc mà thiếu khả năng định tính đối với tính chính xác của sử liệu, hai vị bộc lộ sự hời hợt mà lẽ ra đã mang danh là PGS - TS thì người ta không để mắc phải.

Còn kỳ khôi hơn khi thấy PGS TS Đoàn Lê Giang viết: "Theo nguyên tắc ô trống có thể suy đoán rằng: trước thế kỷ X chắc đã có thơ tiếng Việt. Nếu vậy thì thể thơ ấy là gì, như thế nào? Chúng tôi cho rằng: cần phải coi thơ tối cổ của người Việt là loại thơ hai tiếng, tiếc rằng vì nhiều lý do chúng đã không được sưu tập, giữ gìn, đến nay chỉ còn tàn tích của nó qua đồng dao và một số bài coi là ca dao.

Từ thơ hai tiếng, thơ Việt phát triển lên thành bốn tiếng, rồi từ đó mới thành sáu tiếng và tám tiếng, tức thể thơ lục bát sau này. Đây là thơ hai tiếng: Nu na - Nu nống - Cái bống - Nằm trong - Con ong - Nằm ngoài - Củ khoai - Chấm mật. Đây là thơ hai tiếng phát triển thành bốn tiếng: Tay cầm con dao - Làm sao cho chắc - Để mà dễ cắt - Để mà dễ chặt - Chặt lấy củi cành...

Thơ bốn tiếng phát triển dần lên thành sáu tiếng và tám tiếng: Rồng rắn lên mây - Có cây lúc lắc - Có nhà hiển vinh - Thầy thuốc có nhà hay không?", cứ nghiên cứu thế này thì đúng là chán thật. Mong một ngày đẹp trời nào đó, PGS TS Đoàn Lê Giang sẽ chứng minh đâu là "tính thơ" trong ví dụ về thơ hai tiếng và thơ bốn tiếng mà ông đã đưa ra?
Hà Yên
.
.
.