Lạm bàn về “Tả thực” và hệ lụy văn chương
Đọc những so sánh, phân tích, biện luận của Trần Ngọc Lãng về “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), về “Đất nước đứng lên” (Nguyên Ngọc)… tôi cứ buồn cười. Ông đã tự mâu thuẫn khi một mặt tỏ ra dị ứng với yêu cầu "tả thực" của văn chương, mặt khác ông lại sử dụng chính logich của cuộc sống hiện thực để soi chiếu logich của cuộc sống trong văn chương, bằng việc bắt bẻ các tình huống, chi tiết trong tác phẩm, mà càng bắt bẻ lại càng nhảm!
Ông liệt kê “Đồng chí Tơ”, “Xổng cũi”, “Bà Năm di cư”, “Nông dân và địa chủ”, “Đống rác cũ” (1 và 2) rồi kết luận: "Bản kê "sáng tác phẩm" của Nguyễn Công Hoan sau nửa đời đi theo cách mạng chỉ có bấy nhiêu còn lại toàn những "sổ tay văn học","kinh nghiệm sáng tác", "nghĩ gì viết nấy"…", vậy là ông đã vứt phéng đi đâu hai tiểu thuyết “Tranh tối tranh sáng” và “Hỗn canh hỗn cư” của Nguyễn Công Hoan viết sau năm 1945 nhỉ, mà cũng phải tính đến bản tham luận tại một hội nghị văn nghệ viết dưới hình thức truyện ngắn có nhan đề “Tôi đi đóng giầy” nữa chứ?
Từ sự tự tin như thế và lại nhân danh tính chân thực để phê bình, dưới con mắt người viết này, xem chừng từ ngày đi theo cách mạng thì nhân cách, tài năng của Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài,… cũng tầm thường.
Tôi ngờ ngợ hình như qua cái nhìn lai pha giữa tác giả với tác phẩm, Trần Ngọc Lãng muốn dựng chân dung một số tác giả nổi tiếng qua mấy phác vẽ khá nhem nhuốc. Đồng thời qua câu chữ, tôi lờ mờ nhận ra Trần Ngọc Lãng viết “Trí khôn nhà văn ở đâu?” còn vì một mục đích khác, như một kiểu giải thiêng, nhưng là giải thiêng của một "phù thủy thấp tay ấn"?
Thêm nữa, trong ứng xử giữa người với người, câu hỏi "trí khôn của anh ở đâu?" thường biểu thị cho thái độ tự thị, "mục hạ vô nhân", tôi không rõ Trần Ngọc Lãng sẽ nghĩ sao nếu ai đó sau khi đọc “Trí khôn nhà văn ở đâu?” lại đặt ra câu hỏi: "Trí khôn Trần Ngọc Lãng ở đâu?". Thiển nghĩ, nếu Trần Ngọc Lãng vốn là nhà văn, thì càng không nên đặt cái nhan đề như vậy.
Tả thực trong văn chương, khác với tả thực trên báo chí, tính thông tấn đòi hỏi ở báo chí sự chính xác mà nếu sai lạc sẽ ảnh hưởng tới chất lượng bài báo, ảnh hưởng tới sự tin cậy đối với người viết. Mới rồi tôi đọc một tin ngắn thông báo Nhà máy Luyện kim ở Lào Cai mới ra lò mẻ đồng 20 tấn.
Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu phóng viên không khẳng định đây là mẻ đồng đầu tiên được sản xuất tại Việt
Lại nhớ mục Chuyện thường ngày của báo X đăng chuyện vui “Trung tâm đào tạo Sharapova Bangky” của tác giả Bút Bi. Chuyện hư cấu tình huống ngôi sao quần vợt này sang Việt
Song chuyện vui đó lại làm cho phóng viên UPI tưởng thật nên dịch và đăng lại trên UPI ngày 21/2/2008 qua bài báo “Sharapova lập kế hoạch xây dựng trung tâm quần vợt ở Việt
Rất tiếc là ngay sau đó, tác giả Tuệ Minh khai thác thông tin này từ UPI, tập hợp thêm một số sự kiện để viết bài “Khi các siêu sao bí mật đến Việt Nam” đăng trên báo Y với ước mơ về một ngày Việt Nam sẽ là nơi quy tụ các ngôi sao quần vợt hàng đầu thế giới!... Viết lách như thế thì thảo nào mục "dọn vườn" trên báo chí chẳng thêm đắt khách!
Một thời, chủ nghĩa hiện thực cùng lối hiểu thô sơ về chủ nghĩa hiện thực đã ảnh hưởng khá lớn đến văn học Việt
Nhân vật của văn chương cũng thế, phải giống với những "mô hình" khá ổn định trong quan niệm của cả nhà văn, người viết phê bình lẫn người đọc. Song nói thế không có nghĩa mọi tác phẩm văn học sau 1945 đến nay đều chung đặc điểm này.
Nhiều nhà văn đã cố gắng vượt qua sự khuôn sáo, máy móc để viết nên tác phẩm mang cá tính sáng tạo riêng và hấp dẫn. Đồng thời một số nhà lý luận - phê bình cũng không để ngòi bút lệ thuộc vào các công thức đánh giá cứng nhắc, đặng tiếp cận tác phẩm một cách đa dạng, tinh tế. Như tiểu thuyết của Lê Khâm - Phan Tứ chẳng hạn. --PageBreak--
Từ “Bên kia biên giới”, “Trước giờ nổ súng” cho đến “Mẫn và tôi”, ông đã đi qua một đời sáng tác, tác phẩm của ông không thuần túy "tả thực", chúng mang chứa nhiều phẩm chất mà thực tế từ cuộc sống và tài năng của nhà văn đã đan bện, hòa quyện với nhau để tác phẩm có dáng dấp là sáng tạo nghệ thuật đích thực.
Nếu được hỏi ý kiến, tôi không ngần ngại xếp “Mẫn và tôi” đứng đầu danh sách tác phẩm văn chương Việt Nam viết về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang.
Cũng với cách nhìn ấy, các tiểu thuyết “Phá vây” (Phù Thăng), “Dấu chân người lính” (Nguyễn Minh Châu), “Chim én bay” (Nguyễn Trí Huân)… và đặc biệt là tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) cho thấy nhà văn đã không chỉ "tả thực" mà còn gửi gắm vào tác phẩm các suy tư sâu sắc, nhân bản… Đó là một dấu hiệu của nhà văn trưởng thành.
Tuy nhiên, một hệ lụy của văn chương "tả thực" còn lại tới hôm nay là sự quan tâm thái quá đến các đề tài mang tính thời sự. Để đáp ứng yêu cầu "tả thực", các nhà văn thường lấy việc bám sát cuộc sống làm một tiêu chí cho sáng tác.
Mà cuộc sống, dù biến động và phức tạp thế nào thì mỗi giai đoạn đều có các vấn đề xã hội - con người mang ý nghĩa tập trung, thời sự, nhất là vấn đề gắn với các nhiệm vụ mà xã hội đòi hỏi cần phản ánh trực tiếp, nhanh chóng trong văn học.
Các vấn đề đó trở thành đề tài của văn chương và làm xuất hiện các đề tài như chiến tranh, nông nghiệp, công nhân, lâm nghiệp, nông thôn, thiếu nhi…, tức là đã có "N" đề tài đã được xác định thông qua việc không chỉ các hội đoàn văn chương mà cả các cơ quan không dính dáng tới văn chương cũng phát động các cuộc thi và một khi nhận thấy đề tài cuộc thi là xứng đáng thì các nhà văn không thể bỏ qua.
Nếu thống kê, có lẽ đã có hàng trăm cuộc cuộc thi sáng tác văn học theo đề tài nào đó từng được phát động, kèm theo là các trại sáng tác tổ chức rình rang từ Tam Đảo, Sa Pa, Đại Lải, Núi Cốc, Quảng Bá, Đồ Sơn… đến Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tàu… ngõ hầu giúp một số nhà văn sống ở trại quen hơn là sống ở nhà.
Ít thì mười ngày, nhiều thì cả tháng, ăn uống thì phong lưu, phòng ốc thì sang trọng… điều kiện vật chất đâu ra đấy, chỉ có tác phẩm hay là vẫn chạy đâu mất tăm.
Mới sinh ra tình trạng, trong ngày ở trại, có nhà văn sớm tối cặm cụi bút nghiên (như cố nhà văn Triệu Huấn, tự đặt chỉ tiêu mỗi ngày viết 6 trang bản thảo), có nhà văn thi thoảng đem tác phẩm ra nhờ anh em góp ý, thì lại có nhà văn mang theo tác phẩm viết sẵn ở nhà, đến trại nộp cho đủ yêu cầu rồi tha hồ rong chơi, quán xá vi vu, chén rượu cuộc cờ, lúc nào cũng vui như tết.
Thông thường, ý tưởng là điểm xuất phát của tác phẩm, và ý tưởng ấy thuộc về đề tài nào là ngẫu nhiên. Nhưng khi nhà văn không xuất phát từ ý tưởng mà bắt đầu từ đề tài thì tác phẩm sẽ hình thành trên cơ sở cốt truyện.
Đọc và khái quát, tôi thấy tác phẩm văn xuôi của đa số nhà văn Việt
Đại loại như con A yêu thằng B nhưng về sau lại lấy thằng C; hoặc con lão D hư hỏng vì lão D tha hóa và rồi vợ lão D cũng bỏ lão để đi theo thằng E…! Đáng ngạc nhiên là sau khi trình bày xong cốt truyện, tác giả nào cũng tự thấy tác phẩm của mình xuất sắc, độc đáo, tầm cỡ và thường thì họ trình bày để "khoe" chứ không phải để nghe góp ý, vì nếu có góp ý thì họ cũng tìm ra lý do để bác bỏ, để rồi sau khi xuất bản, đọc tác phẩm thấy cũng làng nhàng. Văn đàn bớt đi vài trăm tác phẩm như thế thì cũng chẳng sa sút hơn!
Hồi 1999, trong bài viết bàn về tiểu thuyết ở Việt
Cách đây vài năm, đọc một bài viết của TS Hoàng Ngọc Hiến, thấy ông đưa ra nhận xét tương tự với khái niệm "kể nội dung". Tôi nghĩ, dường như phán đoán của mình đã không đơn độc. Vấn đề còn lại là phán đoán ấy cần chứng minh kỹ hơn, cả về lý luận và thực tiễn.
Nếu đó là nhận xét xác thực thì nhà văn cũng nên tham khảo, để thay đổi một vài thói quen trong sáng tác. "Nghiền ngẫm về hiện thực" - như ý kiến của Lê Ngọc Trà, không phải là một quá trình đơn giản, đó là một diễn biến phức tạp trong tâm trí nhà văn, ám ảnh và làm họ day dứt nếu không cầm bút.
Vì thế, "nghiền ngẫm về hiện thực" không đồng hành với hời hợt, mà đòi hỏi phải đầu tư trí tuệ theo cả chiều rộng và chiều sâu. Thiển nghĩ, trên đời này, chẳng có thành công nào lại ra đời từ sự lười nhác, văn chương cũng không phải là sân chơi dành cho những ai chỉ biết viết và viết, không đặt câu hỏi tại sao không viết như thế này mà không viết như thế kia và cái thông điệp tinh thần mà nhà văn muốn đem tới cho bạn đọc có thật sự là một thông điệp mang ý nghĩa phổ quát hay chỉ là vài ba suy nghĩ nông cạn, vu vơ, cảm nhận bề ngoài.
Những "khổ nạn" nhà văn tự chuốc vào đầu óc mình chính là nguồn cội để làm ra tác phẩm lớn. Còn nếu cứ coi văn chương chỉ là một "trò chơi" thì văn đàn nước nhà sẽ chỉ có tác giả "chơi" nổi tiếng chứ không có nhà văn nổi tiếng
