Hòa giải là hơn
Một thời không yên
Ông Nguyễn Hữu Có sinh năm 1925, quê ở Mỹ Tho (Tiền Giang). Do những điều kiện chủ quan của thành phần xuất thân, năm 14 tuổi, ông đã được gia đình cho tham gia vào lực lượng thiếu sinh quân Đông Dương do chính quyền thực dân đỡ đầu. Tháng 4/1946, Nguyễn Hữu Có đã gia nhập quân đội Pháp và được trao quân hàm trung úy.
Sau Hiệp định Geneva, Nguyễn Hữu Có từng được giao nhiệm vụ chỉ huy điều quân vào các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi tiếp thu những vùng đất mà quân cách mạng đã rút ra miền Bắc. Khi cái gọi là Quân lực Việt Nam Cộng hòa thành lập ở miền Nam Việt Nam, ông được giao làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn 33 và tiếp tục giữ hàm trung tá… Sau đó, ông được chính quyền Ngô Đình Diệm chọn vào nhóm 10 sĩ quan giàu triển vọng sang Mỹ tu nghiệp về công tác chỉ huy và tham mưu. Về nước, ông làm Tư lệnh Sư đoàn 31…
Tháng 11/1963, Nguyễn Hữu Có, lúc này đang là đại tá, giữ chức Tư lệnh Phân liên khu miền Đông (Quân khu 1), đã tham gia vào nhóm nòng cốt các sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn tiến hành đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong số các sĩ quan đó còn có hai trung tướng là Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn, các thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, Trần Văn Minh, Phạm Xuân Chiểu, Lê Văn Nghiêm cùng các đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Đỗ Mậu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Trần Ngọc Huyến, Nguyễn Khương, Đỗ Cao Trí… Những đóng góp khá mạnh mẽ của ông đã giúp ông được thăng lên quân hàm thiếu tướng sau khi đảo chính thành công và Ủy viên Hội đồng Quân nhân cách mạng, Tư lệnh Sư đoàn 7.
Phải nói là trong giai đoạn này, Nguyễn Hữu Có đã rất nhanh nhạy nhận diện những mâu thuẫn nội bộ của các chiến hữu đồng ngũ và chọn đúng “cửa chơi” nên đã duy trì được vị trí của mình giữa mớ bòng bong những biến động đầy toan tính trên chính trường Sài Gòn. Ông đã mau lẹ tham gia cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh một cách ngoạn mục nên được thăng lên Phó tư lệnh Quân đoàn IV, rồi Tư lệnh Quân đoàn II. Tiếp theo, ông đã kịp thời rời bỏ phe Nguyễn Khánh để đứng về phía nhóm tướng trẻ, những người mạnh tay cướp lấy quyền lực để phân chia lại bổng lộc từ sự giúp đỡ của Washington cho chiến tranh. Và ông đã trở thành nhân vật có quyền lực thứ ba trong bộ máy chính quyền mới, chỉ sau tướng Nguyễn Văn Thiệu, lúc này đã lên nắm vị trí Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo quốc gia và tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ vừa ngồi vào ghế Chủ tịch Ủy ban Hành pháp quốc gia. Chính ở thời điểm đó, Nguyễn Hữu Có đã được giữ vị trí cao nhất mà ông có trong quân đội Sài Gòn: Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Phó Thủ tướng… Tháng 11/1965, ông được thăng quân hàm trung tướng.
Trong phúc có họa, chính vai trò rất nổi bật của Nguyễn Hữu Có trong lực lượng vũ trang của chính thể Việt Nam Cộng hòa lại khiến ông trở thành đối tượng cần phải dè chừng nhất trong con mắt của Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Những kẻ nhiều tham vọng này không bao giờ muốn có những nhân vật khả dĩ cạnh tranh với họ trong ván bài quyền lực. Sau này, ông nhớ lại: “Chính sự thăng tiến nhanh và uy tín cao trong hàng ngũ quân đội ấy của tôi đã không nhận được sự cổ vũ, thậm chí còn gây lo ngại cho chính quyền ông Thiệu. Cũng chính vì lẽ đó mà đời binh nghiệp của tôi đã phải rẽ ngang, “ba chìm, bảy nổi” ở nước ngoài…”.
![]() |
| Ông Nguyễn Hữu Có. |
Ra đi là ngã
Năm 1967, Nguyễn Hữu Có đã bị sa vào bẫy “điệu hổ ly sơn” khi thực hiện chuyến công du sang Đài Loan. Sau này, ông nhớ lại: “Với địa vị Phó Thủ tướng chính phủ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, tôi được hai tướng Thiệu, Kỳ yêu cầu tôi đi Đài Loan với tư cách đại diện Quân đội và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa để cảm ơn Tổng thống Tưởng Giới Thạch và chính phủ Đài Loan về những sự giúp đỡ quân sự, ngoại giao… Tôi được đón tiếp như một thượng khách với các nghi lễ đầy đủ. Báo chí Đài Loan cũng đề cao ca tụng tôi. Cuộc công du đang diễn ra tốt đẹp thì đến ngày thứ ba, bất trắc đã xảy ra cho tôi. Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan là tướng Trần Thiện Khiêm và Đại sứ Trung Hoa Quốc gia tại Việt Nam là Hồ Liên xin đến gặp tôi tại khách sạn ban đêm để trao cho tôi bản tin nhận được từ Sài Gòn. Tôi bị Hội đồng Quân lực xét xử và cách chức Phó Thủ tướng và Tổng trưởng Quốc phòng, đồng thời bị giải ngũ khỏi quân đội. Tôi hơi bàng hoàng vì trước ngày tôi lên đường, mọi việc có vẻ bình thường. Tôi lấy lại bình tĩnh và nhận định đây là một âm mưu gạt tôi ra nước ngoài để loại tôi ra khỏi chính quyền. Hôm sau tướng Nguyễn Văn Thiệu gửi điện văn qua yêu cầu tôi sau khi chấm dứt công tác ở Đài Loan, tiếp tục dẫn phái đoàn đi thăm Đại Hàn. Tôi liên lạc điện thoại về Sài Gòn nói chuyện trực tiếp với tướng Thiệu. Tôi trình bày rằng, tôi không thể đi Đại Hàn được vì các anh đã “cách chức tôi”, hơn nữa cuộc công du nầy chưa chuẩn bị. Thiệu cố ý ép tôi đi Đại Hàn với dụng ý đưa tôi đi xa để khỏi trở về nước. Nhưng tôi xin được đến Hong Kong tị nạn chính trị. Cuối cùng Thiệu ưng thuận…”.
Mãi tới năm 1970, khi Nguyễn Văn Thiệu đã củng cố được vững chãi vị trí của y rồi thì y mới đồng ý để cho Nguyễn Hữu Có trở lại Sài Gòn. Biết thân biết phận, sau khi hồi hương, Nguyễn Hữu Có đã chủ yếu dồn sức cho các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng… Ông từng giữ chức Phó tổng giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng trong những năm 1971-1973.
Tuy nhiên, không phải vì quá lo sợ mà Nguyễn Hữu Có lại quên những hoạt động chính trị quen thuộc. Ấp ủ trong lòng những khúc mắc với Nguyễn Văn Thiệu, ông đã nhận lời tham gia lực lượng thứ ba do tướng Dương Văn Minh (từng là thù địch với ông trong quá khứ) chủ trì…
Năm 1975, trong những ngày hấp hối của chế độ Sài Gòn, khi tướng Dương Văn Minh ra nhận làm Tổng thống, Nguyễn Hữu Có đã được cử giữ chức cố vấn quân sự chiều ngày 29-4 giúp cho Trung tướng Vĩnh Lộc, vừa được chỉ định làm Tổng tham mưu trưởng lâm thời. Nguyễn Hữu Có cũng là một trong hai viên tướng (người kia là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh) còn ở lại bên cạnh Tổng thống Dương Văn Minh cho tới phút cuối cùng của chế độ Sài Gòn.
An phận bình yên
Cũng như nhiều sĩ quan cao cấp khác của chế độ Sài Gòn, sau năm 1975, Nguyễn Hữu Có từng phải đi cải tạo một thời gian. Và ông đã gia nhập đạo Tin Lành…
Trở lại thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Hữu Có đã có những năm tháng yên bình nhất trong cuộc đời bên cạnh vợ và con cháu. Với tư cách nhân sĩ tự do, ông được mời làm ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong các phát biểu của mình, ông luôn nhấn mạnh rằng, hòa hợp dân tộc là một nhu cầu thiết yếu của đất nước và dân tộc Việt Nam. Hòa hợp dân tộc phải được thể hiện lâu dài và liên tục ở trong cũng như ngoài nước để toàn thể nhân dân Việt Nam cùng nhau xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh… Ông từng kể rằng, trong một lần ra Hà Nội, được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng đã cầm tay ông nói rất thân tình: “Ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay chúng ta đã là hai anh em”…
Khi còn sống, trong một lần trả lời phỏng vấn, ông Nguyễn Hữu Có tâm sự: “Không có ai cản trở gì đến cuộc sống của chúng tôi. Chúng tôi có tới 12 người con, hiện các con tôi đã lập gia đình, có con cháu và các cháu cùng sống với chúng tôi. Các con tôi tuy làm những công việc khác nhau, nhưng đủ sống, có cháu còn khá giả…”.
Trong căn nhà không quá rộng rãi của gia đình ông Nguyễn Hữu Có nằm ở khu dân cư An Thạnh Phú, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, trong nhiều năm liền đã có một góc sân nhỏ dành cho con gái ông, chị Ngọc Thu đứng ra tổ chức bếp ăn tình thương, giúp đỡ các bệnh nhân nghèo tại Bệnh viện Nhi đồng 1 và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch… Cứ vào thứ 6 hằng tuần, bếp ăn tình thương của chị Thu lại nấu khoảng 400 suất cơm và 500 suất cháo, tiếp tế miễn phí cho thân nhân gia đình các bệnh nhân nghèo…

