Hổ mất để lại da

Thứ Tư, 28/09/2011, 16:22
Cơ quan tình báo Đông Đức (Stasi) đã hoạt động tốt nhất thế giới. Cho tới hôm nay, hơn một thập niên sau khi bức tường Berlin sụp đổ và nước CHDC Đức không còn tồn tại nữa, tuyệt đại đa số các điệp viên Stasi vẫn không bị lộ diện, bất chấp mọi nỗ lực phá hoại các kiểu từ phía phương Tây.

Mặc dù Stasi đã bị xóa sổ từ hơn 20 năm trước nhưng, hổ mất để lại da, trình độ chuyên môn cao cùng như những cán bộ kiệt xuất của họ vẫn khiến nhiều người phải trầm trồ.

Theo lời người phụ trách việc xử lý kho tư liệu còn lại của Bộ An ninh CHDC Đức, Roland Jahn, từ năm 1949 tới năm 1989 đã có 12 nghìn người ở Tây Đức từng làm việc cho Stasi.

Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Neue Osnabrucker Zeitung ngày 6/8/2011, ông Jahn cho biết, đại đa số này cho tới hôm nay vẫn không bị lộ diện, bất chấp việc chính quyền CHLB Đức  trong giai đoạn từ năm 1990 tới năm 1999 (sau khi hai miền thống nhất) đã khởi tố tới 3 nghìn vụ án hình sự nhằm "bới lông tìm vết" những người Tây Đức bị nghi là đã từng cộng tác với Stasi. 500 người đã bị đưa ra tòa mà chỉ có khoảng 360 cựu điệp viên Stasi phải nhận án tù. Thế mới biết, Stasi đã có những phương thức bảo vệ cán bộ của mình tốt đến nhường nào.

Một lực lượng huyền thoại

Bộ An ninh CHDC Đức (Stasi) được thành lập theo mô hình và với sự trợ giúp trực tiếp của Bộ An ninh Quốc gia Liên Xô (MGB) vào ngày 8/4/1950, không lâu sau khi vùng lãnh thổ phía đông nước Đức trở thành một quốc gia độc lập với phía tây (CHLB Đức).

Thoạt đầu, đây chỉ là một cơ quan có nhiệm vụ chống gián điệp nhưng từ năm 1952 đã nhận thêm nhiệm vụ hoạt động tình báo. Slogan của Stasi là "Lá chắn và thanh kiếm của Đảng" (tiếng Đức: Schild und Schewert der Partei). Chính đảng lãnh đạo CHDC Đức khi đó là Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED).

Stasi cũng kiểm soát cả một lực lượng an ninh khác ở quốc gia này: đó là Cơ quan Tình báo Quân sự của Quân đội nhân dân CHDC Đức.

Trong thời chiến tranh lạnh, Stasi được đánh giá như là một trong ba lực lượng an ninh hoạt động mạnh mẽ nhất thế giới, cùng với KGB và CIA. Cho tới cuối năm 1989, Stasi đã hoạt động rất sát cánh bên cạnh KGB. KGB từng mời các cán bộ Stasi thiết lập các cơ sở chiến thuật tại Moskva và Leningrad (St. Peterburg hiện nay) để theo dõi khách du lịch người Đức tới Liên Xô.

Gunter Gullaume và Willi Brandt.

Bộ trưởng Bộ An ninh CHDC Đức trong giai đoạn từ cuối thập niên 50  Erich Mielke từng coi các sĩ quan thuộc quyền như "các chiến sĩ CHEKA của Liên bang Xôviết". Năm 1978, tướng Mielke thậm chí còn cho phép các điệp viên KGB, hoạt động trên lãnh thổ Đông Đức, những quyền hạn và quyền lực như những gì họ có trên lãnh thổ Liên Xô.

Stasi có rất nhiều cộng tác viên. Năm 1989, quân số Stasi được ghi nhận ở mức 91.015 trong biên chế. Lực lượng "cộng tác viên" không chính thức là gần 200 nghìn người. Điều đó có nghĩa là một phần năm mươi dân số Đông Đức đã cộng tác với Stasi, một tỉ lệ cao vào hàng kỷ lục trong lịch sử thế giới.

Stasi rất đắc dụng trong việc kiểm soát xã hội và phòng ngừa bất cứ một biểu hiện nào của tâm lý chống đối. Stasi rất giỏi trong việc cài điệp viên vào hàng ngũ đối phương và rất ít cán bộ của họ bị lộ.

Khi xảy ra những sự biến động năm 1989, các cán bộ Stasi trong vòng vây đã nhận được lệnh phải tiêu hủy hồ sơ.

Theo đó, việc đầu tiên là phải tiêu hủy những tài liệu về các điệp viên hàng đầu đã được cài trong hàng ngũ đối phương, tài liệu về những chiến dịch trọng yếu từng được tiến hành ở CHDC Đức và CHLB Đức. Tài liệu được hủy bằng máy  nghiền giấy (shredder).

Vì khối lượng tài liệu phải hủy quá lớn nên máy cán giấy đã bị nóng đến mức không thể sử dụng được nữa. Những mảnh giấy còn sót lại đã được đưa vào các bao tải khác nhau. Sau khi nước Đức thống nhất, chính quyền CHLB Đức đã cho tiến hành công việc khôi phục lại kho hồ sơ của Stasi từ những mảnh giấy còn sót lại đó.

Quyết định ngày 17/11/1989 của Quốc hội CHDC Đức đã thay Stasi bằng Cơ quan An ninh Quốc gia do Wolfgang Schwanitz đứng đầu. Ngày 8/12/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CHDC Đức lúc đó là Hans Modrow đã tuyên bố giải thể Stasi, còn tới ngày 14 cùng tháng, chính phủ CHDC Đức đã thông qua quyết định xóa bỏ cơ quan này.

Theo đạo luật về tài liệu của Stasi, được thông qua năm 1991, tất cả các công dân CHDC Đức đều có quyền tiếp cận với các hồ sơ cá nhân của họ do "các nhân viên không chính thức" của Stasi thu thập.--PageBreak--

Những người lãnh đạo

Lãnh đạo đầu tiên của Stasi là Wilhelm Zaisser, sinh năm 1893. Ông này từng học trường bình dân và tốt nghiệp Trung cấp Sư phạm. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Zaisser đã phục vụ trong quân đội của đế chế Đức và được phong cấp trung úy. Phục viên sau chiến tranh, ông hành nghề gõ đầu trẻ  tại Essen (một thành phố nằm ở miền tây nước Đức).

Cũng tại đó, ông đã tham gia Liên minh Spartak (tổ chức theo khuynh hướng mácxít hồi đầu thế kỷ XX ở Đức và từ ngày 1/1/1919 hòa nhập vào Đảng Cộng sản Đức). Năm 1920, trong thời gian diễn ra cuộc nổi loạn Kapp của các lực lượng bảo thủ chống lại nền cộng hòa Weimar lực lượng Hồng quân Ruhr nên đã bị kết án tù sáu tháng.

Sau khi được trả lại tự do, Zaisser đã làm biên tập viên tờ báo cộng sản Tiếng vọng Ruhr và tích cực tham gia các hoạt động công đoàn. Ông từng được là đại biểu tham dự  Hội nghị lần thứ hai Quốc tế Đỏ các công đoàn (Profintern) diễn ra ở Moskva. Cũng tại Moskva, Zaisser đã tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự đặc biệt năm 1924 rồi lại trở về Đức chỉ huy các lực lượng quân sự thiên tả. Chính ông là người đã lãnh đạo các hoạt động quân sự chống lại lực lượng Pháp chiếm đóng tỉnh Ruhr.

Từ tháng 11/1925, theo đường dây của cơ quan an ninh Xôviết, Zaisser được cử sang hoạt động bí mật tại Palesstine và Syria cho tới mùa xuân năm 1926. Trở về Đức, ông tiếp tục chỉ huy các hoạt động quân sự bí mật của Đảng Cộng sản Đức và biên tập tạp chí Oktober (Tháng Mười) xuất bản bí mật của Đảng. Từ tháng 8/1927 tới tháng 2/1930, ông lại ở trong đội hình tình báo Xôviết để hoạt động tại Mãn Châu Lý (Trung Hoa). 

Trong những năm từ 1932 tới 1935, Zaisser làm cán bộ của Ban Tổ chức Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản, đồng thời giảng dạy về các môn khoa học quân sự tại Trường Đảng mang tên Lênin và Trường Đại học Tổng hợp Cộng sản các dân tộc thiểu số ở phương Tây (KUNMZ) mang tên người chiến sĩ cộng sản Ba Lan Julian Marchlewski. Từ năm 1936, với mật danh Gomes, ông đã chiến đấu trong đội ngũ những người Cộng hòa tại Tây Ban Nha, thành lập và chỉ huy Lữ đoàn số 13 của lực lượng Quốc tế Cộng sản.

Trong những năm diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai, Zaisser ở trên lãnh thổ Liên Xô và đảm nhận các công việc khác nhau với các tù binh phát xít Đức. Năm 1947, ông trở về tổ quốc và gia nhập Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức (SED). Ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị của SED.

Năm năm 1948, ông trở thành Bộ trưởng Nội vụ của xứ Sachsen (Xasony).  Từ năm 1949 tới năm 1954, Zaisser là đại biểu Quốc hội CHDC Đức. Và năm 1950, ngay sau khi Stasi được thành lập, ông đã trở thành  vị chỉ huy đầu tiên của lực lượng an ninh huyền thoại này.

Những biến động dẫn tới bạo loạn, xảy ra vào tháng 6/1953 đã dẫn tới việc Zaisser, người vốn có những mâu thuẫn mang tính nguyên tắc với Bí thư Thứ nhất SED khi đó là Walter Ulbircht, phải rời khỏi mọi chức vụ trong chính quyền, nhường ghế Bộ trưởng An ninh cho ông Ernest Wollweber.  Ông Zaisser mất năm 1958.

Ông Wollweber sinh năm 1898 tại Hannover. Cũng giống như người tiền nhiệm, trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Wollweber đã phục vụ trong lực lượng vũ trang của đế chế Đức nhưng ở trong hải quân. Sớm giác ngộ cách mạng nên tháng 11/1918 ông đã tham gia rất tích cực vào cuộc khởi nghĩa của lính thủy Đức tại Kiel và là người đầu tiên trèo lên treo cờ đỏ trên chiến hạm Helgoland.

Năm 1919, Wollweber gia nhập Đảng Cộng sản Đức và chỉ hai năm sau đã được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Năm 1924, Wollweber bị chính quyền Đức bắt nhưng chỉ hai năm sau đã được trả lại tự do. Năm 1928, ông được bầu vào cơ quan dân biểu Phổ và năm 1932 đã trở thành nghị sĩ Đức.

Là một chính trị cánh tả hoạt động công khai, Wollweber đã đứng đầu liên minh quốc tế của các thủy thủ vô sản và các công nhân cảng. Cũng chính vì thế nên năm 1933, sau khi lực lượng Quốc xã lên nắm chính quyền ở Đức, ông đã phải rời đi sang Copenhaghen, Đan Mạch.

Tại đó, Wollweber vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng và chỉ huy tổ chức bí mật được biết tới với cái tên gọi "Liên minh Thủy thủ" hay "Liên minh của Wollweber" hoặc "Liên đoàn Wollweber", chuyên thu thập những thông tin tình báo và hoạt động chống lại các con tàu của nước Đức. Sau một vụ phá hủy tàu Đức tại cảng Stockholm, Wollweber bị chính quyền Thụy Điển bắt và kết án 3 năm tù. Năm 1944, ông được trục xuất sang Liên Xô.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Wollweber đã trở lại Đức và gia nhập SED. Năm 1950, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Giao thông CHDC Đức. Từ vị trí này, ông được cất nhắc lên vị trí đứng đầu Stasi năm 1953 nhưng chỉ trụ được lại đó tới năm 1957.

Do những mối quan hệ rất thân thiết với các đồng nghiệp Xôviết, Wollweber đã tiết lộ những thông tin về các mâu thuẫn nội bộ của một số đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất ở CHDC Đức lúc đó  cho Moskva. Khi những thông tin này được báo cáo cho lãnh đạo Xôviết  là Nikita Khrusov thì ông này, vốn có định kiến với các cơ quan an ninh nên đã thông báo lại cho Bí thư Thứ nhất SED Ulbricht.

Rốt cuộc là năm 1957, Wollweber đã bị cách chức Bộ trưởng An ninh CHDC Đức và sau đó, bị đưa khỏi BCH TW SED về tội hoạt động phá hoại Đảng.

Ông Wollweber qua đời năm 1967.

Người thứ ba được chọn làm Bộ trưởng Bộ An ninh CHDC Đức trong một giai đoạn dài, từ năm 1957 tới năm 1989 (năm CHDC Đức bị xóa sổ) là Erich Mielke. Đây chính là nhân vật để lại dấu ấn sâu đậm nhất đối với sự phát triển và trưởng thành của Stasi.

Erich Mielke sinh năm 1907 ở Berlin trong một gia đình công nhân. Cha ông là thợ làm đồ gỗ, còn mẹ là thợ may. Dù gia cảnh khó khăn nhưng Mielke vẫn tốt nghiệp trung học. Năm 1921, ông gia nhập tổ chức thanh niên cộng sản và năm 1925, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đức.

Mielke trong những năm từ 1928 tới 1931 vừa làm nghề hợp pháp là nhân viên phân phát hàng, vừa tham gia làm phóng viên cho tờ báo cộng sản Die Rote Fahn (Cờ Đỏ). Năm 1930, Mielke lần đầu bị bắt vì tham gia vào một cuộc biểu tình mà chính quyền cấm. Năm 1931, trong thời gian tham gia một cuộc biểu tình của những người cộng sản tổ chức ở Berlin, Mielke đã cùng một đồng chí của mình hạ sát hai cảnh sát. Cũng vì vụ việc này nên ông đã phải chạy sang Bỉ rồi từ đó sang Moskva vào năm 1932.

Tại thủ đô Liên Xô, Mielke vào học  trường quân sự của Quốc tế Cộng sản mang tên Lênin và sau khi tốt nghiệp năm 1934, ở lại làm giảng viên tại đó. Từ tháng 9/1934 tới tháng 9/1936, cũng như người tiền nhiệm Wollweber, Mielke với mật danh là Fritz Leissner đã tham gia vào cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha chống lại lực lượng phát xít của tướng Franco.

Trên chiến trường Tây Ban Nha, ông đã giữ chức Trưởng phòng Chiến thuật của lữ đoàn rồi trở thành chỉ đạo viên trong Lữ đoàn quốc tế số 11 và tham mưu trưởng của nó với quân hàm đại úy. Sau thất bại của lực lượng cộng hòa, Mielke cùng với các chiến sĩ khác trong liên quân quốc tế đã vượt biên giới Tây Ban Nha sang Pháp.

Do chính quyền Pháp bắt giữ tất cả những người vượt biên giới và đưa vào trại tập trung nên Mielke tìm cách thoát khỏi trại sang Bỉ. Tại Bỉ, sẵn nghề phóng viên, ông vào làm trong một tòa soạn báo.

Khi quân đội phát xít Đức tràn vào Bỉ, Mielke lại chạy sang Pháp. Tại đó, thêm một lần ông lại bị đưa vào trại tập trung. Tuy nhiên, cũng như lần trước, Mielke đã tìm được cách thoát thân và mượn danh một người Latvia để làm nghề đốn gỗ. Ông đã tham gia vào phong trào kháng chiến chống phát xít của người Pháp.

Tháng 12/1943, ông bị chính quyền người Đức bắt giữ nhưng không bị lộ diện thực mà chỉ bắt buộc phải gia nhập Tổ chức Todt (lực lượng xây dựng quân sự của nước Đức phát xít). Ông đã phải làm việc tại các công trình xây dựng phòng tuyến nhưng rồi tới tháng 12/1944 cũng tìm cách chạy thoát tới đầu hàng quân Đồng minh.

Tháng 6/1945, Mielke trở về Berlin và làm thanh tra cảnh sát tại đây, đồng thời cũng là Trưởng phòng cảnh sát và tư pháp thuộc BCH TW Đảng Cộng sản Đức. Từ tháng 6/1946, ông là Phó Chủ tịch Cục Nội vụ Đức. Sau khi nước CHDC Đức được thành lập ngày 7/10/1949, Mielke bắt đầu vào làm việc trong lực lượng an ninh mới được thành lập lại và từ tháng 10/1949 đã là tướng thanh tra của Tổng cục Bảo vệ Kinh tế (cái tên đầu tiên của cơ quan an ninh CHDC Đức).

Từ năm 1950, ông đã là lãnh đạo của cơ quan này. Từ năm 1955, Mielke là Thứ trưởng Bộ An ninh CHDC Đức. Và sau khi ông Wollweber mất chức Bộ trưởng, Mielke đã được Bí thư Thứ nhất SED Unbricht đưa vào vị trí quan trọng này. Và trong suốt hơn 30 năm, cho tới năm 1989, chính Mielke đã góp phần cực kỳ quan trọng trong việc đưa Stasi trở thành một trong những lực lượng an ninh tinh nhuệ nhất thế giới.

Năm 1959, Mielke được phong quân hàm Trung tướng và sáu năm sau đó (1965), ông trở thành Thượng tướng. Năm 1980, Mielke được phong quân hàm Đại tướng. Ông từng là  Ủy viên BCH TW SED từ năm 1950 và từ năm 1976, là Ủy viên BCT BCH TW SED. Ông là một vị tướng an ninh Đức nhận được nhiều huân huy chương của nước ngoài nhất.

Sau khi CHDC Đức bị xóa sổ, Mielke đã phải sống những tháng ngày cực nhục nhưng ông vẫn giữ được tư thế đàng hoàng của mình. Các cơ quan tư pháp của CHLB Đức dù rất cố gắng nhưng vẫn không thể tìm ra được chứng cớ buộc tội ông trong những năm dài ông lãnh đạo Stasi.

Cuối cùng, ngày 26/10/1993, họ đành phải "bới lông tìm vết", cho rằng ông đã vi phạm pháp luật khi cùng đồng chí của mình hạ sát hai cảnh sát năm 1931 trong một cuộc biểu tình cộng sản để kết án ông 6 năm tù. Tuy nhiên, tới ngày 1/8/1995, Mielke đã được trả tự do trước thời hạn.

Trong những năm cuối đời,  Mielke, người từng có vị trí thứ hai trong nước CHDC Đức sau Tổng Bí thư Erich Honecker, đã sống cùng vợ trong một căn hộ khiêm nhường tại Berlin. Hàng xóm vẫn nhớ ông như một cụ già ít nói hiền lành thường hay được các vệ sĩ đưa ra ngoài dạo chơi trên xe lăn.

Tháng 3/2000, Mielke được đưa vào trại dưỡng lão, nơi người con trai Franc của ông làm bác sĩ. Ông qua đời ngày 21/5/2000.--PageBreak--

"Người không có mặt" Markus Wolf

Lãnh đạo tình báo đối ngoại của Stasi trong giai đoạn từ năm 1958 tới năm 1986 là Thượng tướng Markus Wolf. Ông từng được các cơ quan an ninh phương Tây đặt cho biệt danh "Người không có mặt" vì trong một thời gian dài, họ không thể nào tìm được một bức chân dung rõ nét của ông…

Markus Wolf sinh ngày 19/1/1923 tại thành phố Hechingen (Wurttemberg) trong một gia đình Đức  gốc Do Thái. Cha ông là bác sĩ, nhà văn, đảng viên cộng sản Friedrich Wolf. Năm 1934, sau khi đảng Quốc xã lên cầm quyền ở Đức, vị tướng an ninh tương lai đã cùng cha mẹ và cậu em trai Konrad (về sau là một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng)  rời sang Thụy Sĩ rồi sang Liên Xô cư trú.

Tại Moskva, Markus Wolf đã học trong trường phổ thông dành cho trẻ em Đức mang tên lãnh tụ cộng sản Đức Karl Liebknecht và sau đó một thời gian, đã chuyển sang học ở Trường tiếng Nga mang tên nhà khoa học người Na Uy chuyên nghiên cứu về vùng cực Fridtjof Nansen.

Khi cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bắt đầu (tháng 6/1941), gia đình Wofl được sơ tán về nước cộng hòa vùng Trung Á Kazakhstan sinh sống. Riêng Markus Wolf đã được về Moskva vào học ở Trường Quốc tế Cộng sản, lớp đào tạo các cán bộ an ninh để tung vào hậu phương của kẻ thù.

Tuy nhiên, sau đó, vị tướng tương lai đã không phải nhảy dù vào nước Đức thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm mà được cùng nhiều đồng chí của mình vào học lên tại các học đường dân sự để chuẩn bị cho một tương lai sau chiến tranh ở tổ quốc. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945, Markus Wolf vẫn còn đang học dở tại Trường Đại học Hàng không Moskva (MAI) nhưng vẫn được chuyển về Đức công tác  cùng một nhóm đảng viên cộng sản người Đức khác để chuẩn bị lên nắm chính quyền.

Trên đất Đức, thoạt tiên, Markus làm phóng viên tờ Berliner Rundfunk. Vị tướng tương lai đã viết rất nhiều bài báo mang tính thời sự, trong đó có những phóng sự về phiên tòa quốc tế Nuremberg xử những tên trùm phát xít. Năm 1949, Markus Wolf được cử làm trợ lý đại sứ CHDC Đức tại Liên Xô.

Năm 1951, ông được triệu hồi về CHDC Đức để vào làm việc tại Viện Nghiên cứu Khoa học kinh tế. Đây thực chất là cơ quan tiền thân của tình báo đối ngoại CHDC Đức. Tháng 12/1952, Markus Wolf trở thành người lãnh đạo cơ quan tình báo đối ngoại CHDC Đức.

Thoạt tiên, số lượng cán bộ của tình báo đối ngoại Đông Đức không đông. Theo chính lời của Thượng tướng Markus Wolf, cuối năm 1953 chỉ có khoảng 12 điệp viên  Đông Đức được cài vào làm việc ở nước ngoài và còn khoảng 30-40  người nữa đang được chuẩn bị đưa đi công tác ở nước ngoài.

Một trong những khó khăn cho hoạt động của tình báo đối ngoại CHDC Đức khi đó là còn có nhiều quốc gia chưa chịu công nhận Berlin nên buộc phải sử dụng toàn những biện pháp bất hợp pháp để cài điệp viên vào đó (không có các đại sứ quán để các điệp viên có thể hoạt động công khai dưới vỏ bọc ngoại giao).

Trong những năm 60 của thế kỷ trước, chính lực lượng tình báo đối ngoại của CHDC Đức đã phối hợp chặt chẽ với KGB trong những nỗ lực giúp đỡ phong trào cách mạng và giải phóng dân tộc ở các nước Á - Phi.

Tới thời điểm năm 1986, trong lực lượng tình báo đối ngoại của CHDC Đức đã có gần 1.500 điệp viên được gài vào các vị trí khác nhau, chưa kể hệ thống điệp viên công khai làm việc tại các đại sứ quán và các điệp viên trợ giúp...

Nhiều điệp viên từng được giữ những vị trí khá cao trong hàng ngũ đối phương, thí dụ như Gunter Guillaume: ông từng là trợ lý của Thủ tướng CHLB Đức Willi Brandt.

Năm 1986, Markus Wolf về hưu.

Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, tướng Markus Wolf chuyển sang cư trú tại Liên Xô cho tới khi xảy ra chính biến tháng 8/1991. Ở thời điểm đó, ông đã xin được cư trú chính trị tại Áo nhưng chỉ sang tháng 9/1991, ông lại quyết định trở về Đức, chấp nhận bị bắt và bị giam vào tù trong phòng đơn 11 ngày. Sau đó, ông được trả lại tự do sau khi nộp tiền cầm cố.

Năm 1993, tướng Markus Wolf bị chính quyền Đức kết án 6 năm tù. Năm 1995, án tù này được đổi thành án treo nhưng sang năm 1997, ông lại bị tòa án Dusseldorf kết thêm án 2 năm tù treo nữa.

Năm 1995, tòa án Hiến pháp CHLB Đức đưa ra quyết định ngừng truy xét các sĩ quan an ninh CHDC Đức về tội phản bội tổ quốc và làm gián điệp. Theo chính lời tướng Markus Wolf, trong các cuộc tra hỏi của đối phương, ông không tiết lộ tên họ của bất cứ một điệp viên nào trong lực lượng tình báo đối ngoại mà ông biết.

Cho tới khi qua đời, Markus Wolf vẫn liên tục viết sách: ông viết tiểu thuyết và hồi ký. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch và in ở những nước khác.

Thượng tướng Markus Wolf qua đời ngày 9/11/2006 tại Berlin.

Điện viên lừng lẫy nhất của Stasi

Đó là Gunter Guilaume, người từng là trợ lý cho Thủ tướng CHLB Đức Willi Brandt. Việc ông bị lộ diện đã là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự mất chức của Thủ tướng Brandt.

Gunter Guilaume sinh ngày 1/2/1927 tại Berlin trong một gia đình nghệ sĩ âm nhạc. Trong những năm 1944-1945, ở giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã phải vào làm lính trong một đơn vị phòng không của nước Đức Quốc xã. Hết chiến tranh, ông quay về Berlin và làm nghề chụp ảnh.

Năm  1950, Guilaume được đưa lên làm biên tập viên tại nhà xuất bản Volk und Welt ở Đông Berlin. Trong giai đoạn từ năm 1950 tới năm 1956, Guilaume đã nhận lời cộng tác với Bộ An ninh CHDC Đức và được cử đi học tại CHLB Đức để chuẩn bị cho việc thực hiện những nhiệm vụ bí mật trong tương lai.

Năm 1956, theo mệnh lệnh của Bộ An ninh CHDC Đức, Guilaume đã chuyển tới sống thường xuyên tại Frankrurt trên sông Main và mở tại đó quán cà phê Boom am Dom.

Năm 1957, Guilaume gia nhập đảng Dân chủ - Xã hội Đức (SPD), một trong những chính đảng lớn nhất ở CHLB Đức. Vợ ông trở thành thư ký trong ban lãnh đạo SPD tại vùng nam Hessen. Từ năm 1964, Guilaume chuyển sang làm công tác đảng của SPD, thoạt tiên ở cương vị điều hành chi nhánh SPD ở Frankfurt, rồi từ năm 1968, tham gia nhóm đại biểu SPD tại Hội đồng thành phố Frankfurt.

Năm 1969, Guilaume lãnh đạo chiến dịch vận động tranh cử của Bộ trưởng Liên bang Georg Leber tại khu vực bầu cử Frankfurt và đã bộc lộ được khả năng tổ chức tài tình của mình nên giúp cho ông Leber có được những chỉ số ủng hộ rất cao.

Chính vì thế nên sau bầu cử, ông Leber đã hỗ trợ để Guilaume được đưa lên làm chuyên viên của Cục Chính sách kinh tế, tài chính và xã hội của văn phòng Thủ tướng. Tại đây, điệp viên Stasi siêu hạng này cũng thu hút được sự tín nhiệm cao của các cấp lãnh đạo.

Năm 1972, nhờ năng lực làm việc và tài năng tổ chức rất tốt của mình, Guilaume đã trở thành trợ lý riêng của Thủ tướng Willi Brandt. Ở trên cương vị này, điệp viên Stasi đã có điều kiện tiếp cận với  các tài liệu mật và tham gia các cuộc họp do Thủ tướng Liên bang chủ trì trong diện hẹp. Thêm vào đó, Guilaume còn được biết nhiều điều hay ho trong đời tư của Thủ tướng Brandt...

Tất nhiên, lực lượng an ninh của CHLB Đức cũng không quá ngốc nghếch để Guilaume "dắt mũi" lâu. Tuy nhiên, mặc dù họ đã có bằng chứng về hoạt động tình báo cho CHDC Đức của vợ chồng Guilaume từ giữa năm 1973 nhưng phải tới một năm sau đó, hai người này mới bị bắt giữ.

Ngày 24/4/1974, Guilaume đã bị sa lưới ở Bonn với lời buộc tội hoạt động gián điệp. Khi bị bắt, ông đã khảng khái quát lên: "Tôi là công dân và là sĩ quan của nước CHDC Đức. Hãy tỏ ra tôn trọng tôi!". Vụ bắt giữ này đã mở ra một vụ xìcăngđan lớn ở CHLB Đức và được đặt tên là "vụ Guilaume", đẩy Tây Đức vào một cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ nghiêm trọng. Rốt cuộc là ngày 7/5/1974, Thủ tướng Willi Brandt đã phải từ chức.

Ngày 6/6/1974, Quốc hội CHLB Đức theo đề nghị của phe đối lập đã thông qua quyết định cho tiến hành cuộc điều tra vụ việc này và phát hiện ra nhiều sơ hở trong hệ thống hoạt động của các cơ quan an ninh Tây Đức.

Tháng 12/1975, Guilaume bị tòa án CHLB Đức kết án 13 năm tù vì tội phản bội tổ quốc. Vợ ông bị kết án 8 năm tù. Tuy nhiên, các đồng chí đồng đội của vợ chồng Guilaume ở Đông Đức đã không quên hai người và năm 1981, nhờ một vụ đánh đổi điệp viên giữa CHLB Đức và CHDC Đức, họ được quay về Berlin và tại đó, được đón tiếp như những sứ giả hòa bình.

Hai người được tặng thưởng huân chương Karl Marx. Guilaume được phong quân hàm đại tá, còn vợ ông trở thành trung tá. Từ thời điểm đó, Guilaume bắt đầu làm việc trên vai trò giáo viên thỉnh giảng tại các khóa đào tạo của Bộ An ninh CHDC Đức.

Ngày 28/1/1985, nhờ những đóng góp đặc biệt  "trong sự nghiệp đảm bảo hòa bình và củng cố CHDC Đức", Học viện Luật Cao cấp ở Postdam đã phong tặng Gunter Guilaume học vị Tiến sĩ Khoa học Luật".

Ngay sau khi trở lại Đông Đức, Guilaume đã phải lòng một nữ y tá, cũng làm việc trong Stasi. Đó là một phụ nữ kém ông tới 16 tuổi, tên là Elke Brohl. Chính vì thế nên ngày 16/1/1982, bà Christel Boom đã li dị chồng để cho mọi chuyện trở nên minh bạch hơn. Năm 1986, Guilaume chính thức cưới Elke làm vợ...

Trong những năm 1986 - 1988, Guilaume đã cho ấn hành tập hồi ký Bằng chứng. Ông qua đời ngày 10/4/1995 vì bệnh ung thư thận tại Eggersdorf, thuộc ngoại ô Berlin

Hoàng Thương
.
.
.