Hiền nhân Kazik

Thứ Hai, 07/10/2013, 15:02
Thứ 7 vừa rồi, tôi cùng với một anh bạn nhà văn ở Hà Nội có một buổi sáng lang thang ở đô thị cổ Hội An. Lần đầu đến đây, anh bạn của tôi tỏ ra vô cùng thích thú khi được thả bộ thong dong trên những con đường nhỏ. Được ngồi bên mái phố để nhâm nhi ly cà phê sóng sánh và thỏa sức nhìn ngắm những lớp rêu xanh trên mái của những ngôi nhà cổ đã in hằn lớp lớp thời gian. Trước khi đến ngắm Chùa Cầu, chúng tôi đã dừng lại khá lâu bên một khuôn viên thật đẹp.

Ở đó, người ta trưng bày những chiếc xe kéo tay có từ thời xa lắc, người ta trồng hoa với đủ các sắc màu và ở vị trí trang trọng nhất. Trong cái không gian cổ kính ấy, người ta đặt tượng của một người đàn ông phương Tây. Chắc rằng, nhiều khách du lịch đến đây, vẫn còn có ai đó chưa biết đến ông, chưa tỏ tường những đóng góp quý báu của ông cho những vùng đất di sản. Nhưng với những người dân địa phương nơi ông từng đến để sinh sống và làm việc như: Hội An, Mỹ Sơn, Huế… thì con người được tạc tượng ấy đã như là máu thịt, thân thiết mà và rất đỗi gụi gần, họ gọi ông là hiền nhân, là người đã có công rất lớn trong việc trùng tu các di tích và đưa danh tiếng của các di tích ấy, đô thị cổ ấy lên bản đồ du lịch thế giới…

Tên đầy đủ của ông là Kazimierz Kwiatkowsky (bạn bè Việt Nam vẫn thường gọi ông với cái tên thân mật là Kazik), quốc tịch Ba Lan, sinh năm 1944 và mất năm 1997. Trước khi đến với Việt Nam vào năm 1980, Kazik là Kiến trúc sư của P.K.Z (Liên hiệp các xí nghiệp trùng tu di tích Ba Lan). Đây là một trung tâm nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực trùng tu di tích và chính P.K.Z đã thực hiện rất thành công việc trùng tu một số di tích lịch sử nổi tiếng ở các quốc gia như: Ai Cập, Đức, Ấn Độ…

Từ mối lương duyên với Tiến sĩ T.Polak-một nhà trùng tu di tích và hoạt động văn hóa tầm cỡ khi ông tận mắt nhìn thấy sự đổ nát của những tháp Chàm và địa đạo Củ Chi oai hùng. Từ đó mới bắt đầu nảy sinh một nghĩa cử vô cùng hào hiệp là: Giúp đỡ Việt Nam cứu vãn di tích. Theo đó, phía Ba Lan sẽ giúp thiết bị đặc chủng, cử và đài thọ chuyên gia, phía Việt Nam lo ăn ở trong nước cho chuyên gia và phối hợp. Trong số gần một vạn quân của P.K.Z. ngày ấy, chỉ có một kiến trúc sư từ chi nhánh phục hồi di tích ở tỉnh lẻ Lublin, dám xung phong đảm nhận chức Trưởng Tiểu ban Ba Lan-Việt Nam, để thực hiện sứ mệnh tu bổ di tích ở một đất nước Việt Nam xa lạ và không hề có bất cứ một hứa hẹn nào về tiền bạc. Người ấy chính là Kazik.

Ngày Kazik đến Việt Nam, đến với vùng đất Quảng Nam-Đà Nẵng thì Nhà viết kịch Hồ Hải Học đang là một cán bộ quản lý của ngành Văn hóa, vì lẽ đó hai người đã gặp nhau. Lúc đầu, Kazik được bố trí ở khách sạn Phương Đông – Đà Nẵng để ngày ngày đến làm việc tại thánh địa Mỹ Sơn. Thời ấy, phương tiện đi lại chưa phải như bây giờ, hệ thống đường sá giao thông cũng còn rất xuống cấp, đó là chưa kể đến chuyện từ nơi ô tô có thể đi đến, bất cứ ai muốn đi vào khu vực tọa lạc của các tháp Chăm ở Mỹ Sơn đều phải lội bộ một đoạn đường dài gần 8 cây số, băng qua nhiều khe suối và dốc cao. Kể về Kazik, ông Hồ Hải Học nói rằng: “Kazik là con người của di tích và di tích là nỗi đam mê lớn nhất của đời anh. Ông Học nhớ lại: Ngày đó, quyết định của Kazik vào ở hẳn trong khu thánh địa Mỹ Sơn đã làm cho bản thân tôi vô cùng lúng túng. Bao nhiêu khó khăn phải giải quyết, nhưng không còn cách nào khác”. Biết tôi băn khoăn, Kazik khẳng định: “Tôi sẽ sống và làm việc tại “khách sạn Mỹ Sơn”, ông đừng lo!”. Lúc ấy, ở “khách sạn Mỹ Sơn” mới chỉ có cái lán che tạm bằng tranh, tôi nhắn với anh em công nhân làm thêm cho cái sạp bằng cây, rồi mang vào một chút thức ăn, chủ yếu là đồ hộp. Và Kazik đã trải qua đêm đầu tiên ở Mỹ Sơn, một đêm thức trắng. Thì ra, do anh em công nhân chưa nhìn thấy ông tây Kazik bao giờ, trong khi đó tôi lại dặn dò không kỹ, nên cho dù thân hình Kazik cao lớn đến thế, nhưng anh em công nhân chỉ làm một cái sạp có kích cỡ đủ cho một người Việt nhỏ nhắn. Kazik nằm trên chiếc sạp thừa nguyên cả đôi chân ra ngoài, muỗi ở Mỹ Sơn được một bữa no nê. Biết vậy, tôi rất ân hận vì sơ suất của mình, liền đến xin lỗi Kazik. Anh ngắt lời tôi: “Ông không có gì phải băn khoăn cả. Ngược lại tôi phải cảm ơn ông mới phải. Thật là một đêm tuyệt vời. Nhờ cái sạp tí hon của ông, tôi không ngủ được nên mới có dịp ngắm trăng. Thật không sao tả nổi vẻ đẹp của bóng tháp cổ uy nghi. Huyền bí quá ông à. Chưa bao giờ! Chưa bao giờ! Hạnh phúc quá”.

Ông Học kể tiếp: “Ngày đó, đô thị cổ Hội An như một cô gái mỹ miều đang say ngủ. Như một viên ngọc quý còn bị phủ một lớp bụi thời gian. Tôi đưa Kazik đi thăm thị xã cổ kính này và chính anh là người đã sớm nhận ra vẻ đẹp và giá trị to lớn của những kiến trúc cổ, của những nét văn hóa truyền thống phong phú ở ngay cửa sông Thu Bồn này. Lần đó, lãnh đạo thị xã Hội An đã tiếp Kazik. Anh say sưa nói về phố cổ, về tiềm năng thu hút khách du lịch, rồi hỏi thẳng đồng chí chủ tịch thị xã: “Như thế này mà sao các ông không tổ chức đón khách du lịch?”. Tôi thấy đồng chí Chủ tịch có vẻ lúng túng trước câu hỏi bất ngờ đó của Kazik, mãi một hồi lâu đồng chí ấy mới trả lời là chưa có khách sạn. Kazik hỏi, thế các ông định bao giờ mới xây khách sạn? Các ông có định xây dựng những khách sạn hiện đại hơn những khách sạn hiện đại trên thế giới không? Rồi Kazik tự trả lời: “Nếu chỉ vì khách sạn sang trọng, hiện đại thì dân du lịch kéo sang đây làm gì. Thị xã ta chưa có khách sạn và chắc có xây cũng không có vốn để xây khách sạn bốn năm sao đâu. Nhưng những căn nhà cổ kia là những khách sạn mà sẽ không có đủ sao để xếp đâu đấy nhé! Chỉ cần sửa sang lại một chút, trang bị thêm một chút là có thể đón khách rồi. Tôi sẵn sàng trả tiền cao để được trú một đêm trong ngôi nhà cổ”… Và đã nói là làm, trong những năm sau kiến trúc sư Kazik đã có thiết kế thử nghiệm ngay một khách sạn-nhà cổ như vậy…

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Văn Xuân – người được mệnh danh là nhà Quảng Nam học đã khẳng định rằng: “Đối với Hội An, Kazik có vai trò đáng kể. Trước người Việt Nam, người Pháp, người Nhật cũng nhiều vị nghiên cứu Hội An và lưu lại những trang giá trị. Nhưng cho đến hậu bán thế kỷ 20 nổi bật lên hai nhân vật có những công trình khám phá mở đầu cho sự nghiên cứu lớn về Hội An. Người thứ nhất là Hoa kiều Chen Chin Ho (Trần Kinh Hòa). Nhờ nhà nghiên cứu này, mới nổi bật lên từ thập niên 50 sự tìm hiểu lịch sử Hội An có phương pháp, có hệ thống. Trần Kinh Hòa cũng phổ cập phố cổ này bằng Hoa ngữ khắp vùng Đông Á. Sau năm 1975, nhân vật thứ hai chính là Kazik. Ông không viết nhiều nhưng bài Hội An, một di sản kiến trúc đô thị cổ của ông in trên một tạp chí ở Quảng Nam-Đà Nẵng đã gây sự quan tâm đặc biệt từ Bắc chí Nam. Theo tôi hiểu thì chính nhờ bài viết của Kazik mới khuấy động nên phong trào mới mẻ trước kia chưa mấy ai đề cập, kể cả Trần Kinh Hòa, về vấn đề kiến trúc đô thị cổ. Nó đánh dấu sự phát triển mới của ngành nghiên cứu và khảo cổ ở Hội An.

Những người dân sinh sống ở Hội An kể rằng: Cái ông tây cao to, có bộ râu quai nón vàng, đôi mắt xanh (Kazik) mỗi khi đến đây, đôi mắt ông ta nhìn như thôi miên vào từng góc phố, từng ngôi nhà. Ông tây lân la hỏi chuyện, ngắm nhìn và mân mê đến từng trang bị nội thất. Ông ta đặc biệt chú ý đến những ngôi nhà cổ, chiếc võng và cáng của quan lại thời phong kiến Việt Nam, những chiếc quạt kéo trên trần nhà, những chiếc đèn cổ thời Pháp ở thế kỷ thứ 19, những giếng nước ngọt có từ thời vương quốc Chămpa…

Tượng Kazik được đặt tại Hội An.

Sau nhiều năm lăn lộn, khảo sát một cách kỹ lưỡng và hết sức thận trọng, kiến trúc sư - họa sĩ Kazik đã viết báo cáo để gửi đến Tổ chức bảo tồn các đô thị cổ Ba Lan và thế giới để giới thiệu về Hội An, trong báo cáo ấy, có đoạn: “… Hội An là một đô thị cổ có vẻ đẹp không trùng lặp với bất kỳ một đô thị cổ khác, thể hiện trong cấu trúc phố phường, sự phong phú trong các thể dạng kiến trúc, sự hoàn hảo của nghệ thuật chạm khắc, nội thất, các quần thể kiến trúc, tạo nên cho phố cổ Hội An những đặc điểm nổi bật trong không gian và thiên nhiên riêng biệt. Với những đặc điểm trên đã đưa quần thể kiến trúc di tích phố cổ Hội An lên vị trí hàng đầu trong danh mục các di tích văn hóa của Việt Nam và cả trong kho tàng di sản văn hóa nhân loại…”.

Suốt 17 năm trời, Kazik rời khỏi làng quê nhỏ Lublin, rời xa đất nước Ba Lan xinh đẹp để gắn đời mình với Việt Nam xa xôi, nơi mà sinh thời rất nhiều lần ông tâm sự với bạn bè của mình rằng ông coi đó là Tổ quốc thứ hai của mình. Bây giờ, nhiều người bạn của ông ở Đà Nẵng vẫn thường nhắc nhớ về những đêm xưa dưới màn sương lạnh trong thung lũng Mỹ Sơn. Bên đống lửa rừng với những chén rượu Nàng Hương nồng nàn sóng sánh. Kazik vẫn thường kề vai bạn bè bảo rằng: “Sống là công dân của Mỹ Sơn, khi tôi chết ước mong được chôn ở Mỹ Sơn để tan chảy tấm thân này cùng giun dế…”.

Kazik đã qua đời ở tuổi 53, cái tuổi mà theo quan niệm Á Đông là bước ngoặt lớn của đời người, khi sự nghiệp và những hoài bão của ông đang còn dang dở. Con tim giàu nhân ái ấy, con tim đã dành nhiều tình cảm cho đất nước Việt Nam ấy đã ngừng đập trên đất Huế. Ngay trên bàn vẽ Thế Miếu, Tả Vu và ngổn ngang những kế hoạch trùng tu di tích Huế. Cơn nhồi máu cơ tim quái ác đã cướp đi sinh mệnh của một tấm chân tình. Bạn ông, Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính trong giàn giụa nước mắt tại buổi lễ truy điệu Kazik ở nhà Hữu Vu trong khuôn viên Đại nội Huế đã nói: “Kazik đã cùng chúng ta cứu một số di sản văn hóa, nhưng giờ đây không ai trong chúng ta có thể cứu được Kazik”.

Giờ đây, thân xác Kazik đã được người thân đưa về an táng tại quê nhà Lublin, nhưng mối lương duyên giữa ông với đất nước Việt Nam thì sẽ còn mãi mãi. Chắc rằng ông sẽ rất vui nơi chín suối khi biết được rằng những đứa con yêu quý của mình đã đi theo nghiệp bố. Kiến trúc sư Bartek Kwiatkowski và cô em gái theo học cùng ngành Kasia Kwiatknowska đều đã chọn việc trùng tu những di tích ở Việt Nam để hành nghiệp…

Phan Bùi Bảo Thy
.
.
.