Đỉnh cao dưới chân đèo Mụ Dạ
Ngày ấy, những đoàn xe pháo vượt Trường Sơn tiến vào mặt trận chỉ bằng một con đường duy nhất: Đường 12A qua đèo Mụ Dạ. Vì thế, trong những năm 1964-1966, chặng đường hiểm yếu ấy là đầu mối quan trọng nhất, là nơi bị địch đánh phá ác liệt nhất trên con đường lịch sử mang tên Bác Hồ.
Và không phải ngẫu nhiên mà những chiến sĩ cao xạ pháo đầu tiên, những thanh niên xung phong (TNXP) đầu tiên được phong tặng danh hiệu anh hùng đều đã chiến đấu chính trên con đường này. Đó là Nguyễn Viết Xuân và Đại đội 3 pháo cao xạ, là Nguyễn Thị Kim Huế và Đại đội 759…
Với riêng tôi, chính nhờ cuộc sống ấy mà một người chẳng có mấy năng khiếu văn học, đã viết được gần một ngàn trang sách. (Tập ký sự "Vì sự sống con đường"-1968; tiểu thuyết "Đường giáp mặt trận"-1976; tiểu thuyết "Chỗ đứng người kỹ sư"-1980).
Nhưng khi thì vì yêu cầu giữ bí mật tuyến đường chiến lược đang ngày đêm bị kẻ thù dòm ngó, lúc thì do đặc tính "hư cấu" của thể loại tiểu thuyết, nên chưa một lần nào tôi được gọi đích danh những dòng khe, những cây cầu, những đoạn đường đã thành những kỷ niệm không thể phai mờ trong đời tôi.
Cho đến hôm nay, tôi được viết lên trang giấy này những tên gọi thân thiết: 12A, Ca Tang, Bãi Dinh, Mụ Dạ... Và có lẽ cũng như tôi, ngàn vạn đồng chí từ mấy chục năm trước là bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân, cán bộ đã từng đi qua đường 12A, khi đọc lại những địa danh ấy, lòng cũng bồi hồi xao xuyến nhớ lại một chặng đời đáng ghi nhớ của mình...
Không tính cuộc chiến đấu bên kia đèo Mụ Dạ (thuộc đất Lào) vào tháng 11/1964, nơi người chính trị viên Nguyễn Viết Xuân đã cất lên câu khẩu hiệu bất tử "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!", thì trận không quân Mỹ ném bom vào cầu Bãi Dinh ngày 14/4/1965 là trận đầu tiên chúng tấn công đường 12A.
![]() |
Chỉ sau đó hai ngày - ngày 16/4/1965, tại vùng cầu Ca Tang đã diễn ra trận chiến đấu khốc liệt nhất của những người lính cao xạ trên đường 12A. Trận đánh được tất cả các hãng thông tin quốc tế và báo chí trong nước nói đến, chỉ khác tên gọi địa danh (do ta giữ bí mật) và số phản lực Mỹ bị bắn rơi.
Ca Tang là dòng khe lớn nhất, là trọng điểm xung yếu nhất trước cửa ngõ đường 12A nên chính đơn vị cao xạ mang tên anh hùng Nguyễn Viết Xuân đã kéo về bảo vệ hai chiếc cầu lớn ở đây. Địa hình quanh cầu rất khó bố trí trận địa pháo, cuộc chiến không cân sức, cực kỳ khốc liệt là điều biết trước, nhưng nhiệm vụ bảo vệ hai chiếc cầu lớn ở trọng điểm này đòi hỏi các chiến sĩ cao xạ phải chấp nhận hy sinh.
Quả nhiên, trận đánh kéo dài 6-7 tiếng đồng hồ liên tục với hơn 150 lượt chiếc phản lực Mỹ đủ loại. Nhiều trận địa trúng bom và rốc - két, nhiều khẩu đội bị thương vong nặng nề.
Mặc bom đạn xối xả xung quanh, chính trị viên Đậu Văn Vĩnh với thân hình cao lớn vẫn không cúi đầu, mỗi lúc phản lực Mỹ lao xuống lại hô lớn: "Noi gương Nguyễn Viết Xuân, nhằm thẳng quân thù mà bắn! Bắn!...". Một loạt rốc-két cắt đứt cánh tay phải của anh, máu chảy đầm đìa, anh vẫn vươn cánh tay trái còn lại chỉ hướng cho khẩu đội tiếp tục bắn... Rút cục, chúng đánh sập được một nhịp cầu với cái giá rất đắt: 6 phản lực bị bắn rơi…
Sau ngày đó, lần lượt các cầu trên đường 12A bị đánh sập, bom nổ chậm liên tục rải ở những trọng điểm, bom cháy đốt trụi cây lá hai bên đường, cả hai trận máy bay B 52 rải bom dưới chân đèo Mụ Dạ ngày 12/4 và 27/4/1966 (đó là lần đầu giặc Mỹ dùng B 52 đánh miền Bắc) cũng không ngăn được những đoàn xe ra tiền tuyến.
Cuộc chiến đấu ngày càng khốc liệt và đỉnh cao là khi kẻ địch chọn đoạn đường mà Đại đội 759 chốt giữ để thí nghiệm chiến thuật mới: "bom tọa độ". Những tốp máy bay đi rất cao, chưa nghe tiếng động cơ, bom đã nổ hàng loạt. Bất kể ngày, đêm, mưa, nắng, cứ 2-3 giờ một lần, cũng có khi mươi mười lăm phút một lần, bọn giặc lái lại hướng điểm xung yếu nhất của đoạn đường đi men sườn núi cao này phóng bom xuống. "Tọa độ" chúng chọn là ở Km 21, tính từ Khe Ve lên, dưới bản Y Leng một quãng. Còn chúng ta thì nhất quyết bám giữ "tọa độ" chết người ấy, vì những đoàn xe ra mặt trận không có một lối đi nào khác.
Cuộc chiến đấu vì thế thật là khốc liệt, bầu không khí ở đó lúc nào cũng căng thẳng, nóng bỏng, lúc nào cũng có thể hứng bom. Đất đồi tơi ra, hố bom này chồng lên hố bom khác. Chưa kể bom đạn, một chiếc xe nặng đi qua, một cơn mưa rào cũng làm trụt hàng trăm mét khối chắn ngang đường.
Một ngày qua… Mười ngày qua… Một tháng qua! Con đường không biết bao nhiêu lần biến mất rồi lại hiện ra như trong thần thoại. Cho đến đêm 3-7-1966 - một đêm hè trăng rất sáng - một chùm bom lại trút xuống Km 21. Bầu trời sau giây phút sáng lóe lên với những chớp bom, bỗng tối sầm lại. Khói bom, đất đá vụn tung mịt mù. Trong bóng tối mờ mịt ấy, khi núi đất vẫn tiếp tục chảy xuống, có tiếng một cô gái:
- Mẹ ơi! Con hy sinh vì Tổ quốc rồi! Hồ Chủ tịch muôn năm!
Đó là tiếng kêu của Nguyễn Thị Sâm, chiến sĩ Tiểu đội 5. Giữa đống đất đá ngổn ngang nồng nặc khói bom, Nguyễn Văn Hanh vừa ngoi lên, đang dùng tay bới Sâm, miệng xuýt xoa:
- Thôi! Không kịp rồi! Con Sâm chết rồi!
Quả là Sâm đã lịm đi, miệng sùi bọt, bụng dần trướng lên. Chưa kịp đưa Sâm ra thì Mị đã kêu lên trong hơi thở dồn:
- Mau! Mau lên! Anh Châu, chị Thường đất vùi mất rồi!...
Hơn quá nửa chiến sĩ có mặt - trong đó có cả lính Tiểu đoàn 2 Công binh, bị thương vong. Những người bị thương nhẹ khiêng Sâm và các thương binh nặng lên 3 chiếc xe tải chở về bệnh viện. Còn nữa, chia làm tuyến 1 và tuyến 2, thay phiên nhau vào tìm đồng đội còn mất tích. Riêng Đại đội 759, có Cao Xuân Châu, Nguyễn Thị Thường, Cao Thị Thường, Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Xuân Trường, Đinh Tân Thành… bị vùi sâu dưới cả một núi đất bom tuôn xuống.
Cuộc chiến đấu càng thêm quyết liệt vì không thể dùng bộc phá mở đường, do thi hài đồng đội còn nằm dưới đất, trong khi bom tọa độ vẫn trút xuống bất kỳ. Suốt mấy ngày liền, các chiến sĩ công binh và Đại đội 759 chia từng tốp nhỏ thay nhau vào bới tìm đồng đội. Ngày thứ 4, một chiến sĩ công binh từ tuyến 1 về, nói với Nguyễn Thị Kim Huế:
- Đáng ra chúng tôi lấy được rồi. Tất cả đã lộ ra. Chỉ còn mớ tóc bị kẹt vào đá. Và lúc ấy thì bom nổ!...
Như thế là Thường vừa tìm thấy, lại bị đất vùi. Một cô đang ngồi trên hòm bộc phá bên đường, nhìn Huế, rồi nói, giọng băn khoăn và bực bội:
- Dùng cuốc, dùng tay mà bới biết đến lúc mô mới thông đường? Bộc phá thì chất đống để đó!
Huế nói, gần như gắt lên:
- Không bàn chuyện đó nữa. Chưa lấy được hết xác thì nhất thiết không dùng bộc phá. Đảng ủy cũng đã chỉ thị rồi…
Nửa giờ sau, từ tuyến 1, trinh sát Trần Đức Hàm chạy về tuyến 2 chuyển báo cáo để điện về chỉ huy sở: "Đã lại tìm thấy cán xẻng chỗ Thường ngồi. Đề nghị cho chuyển dần bộc phá lên". Tin vừa truyền đi, trận địa lại nhoáng nhoàng những ánh chớp, rồi những tiếng nổ liền nhau, chồng chéo lên nhau rầm rầm rầm, rầm rầm!
Một giờ sau, thi hài của Cao Thị Thường mới tìm lại được. Riêng thi hài của Trần Xuân Trường mãi vẫn bặt tăm. Con đường huyết mạch ra tiền tuyến không thể bị tắc nghẽn, không thể để các chiến sĩ công binh, vận tải cõng xăng và hàng hóa qua trọng điểm và có lần bộ đội hành quân, khi trèo qua sườn đất bom đánh tơi ra, cả mảng đồi bất thần tụt xuống khe, kéo theo cả một tiểu đội! Sở chỉ huy buộc phải quyết định cho dùng các phương tiện kỹ thuật mạnh và tập trung thêm lực lượng để mở thông đường.
Trong đội quân tình nguyện lên tiếp sức cho Đại đội 759 có hai tiểu đội thuộc Đại đội 757, quê Lệ Thủy, hai tổ công nhân của đội Quyết Tiến và Tiền Phong gồm những tay thợ thành thạo trong việc dùng bộc phá mở đường ngay từ khi mở tuyến đá hiểm trở qua vùng Bãi Dinh. Cả bác sĩ Hà Văn Mai cũng cố "thu nhỏ" cái bệnh xá với những thứ thuộc tốt nhất vào trong một xắc cấp cứu để lên trực trận địa…Thằng Mỹ mới chọn Km21 làm "tọa độ" có hơn một tháng, còn những chiến sĩ giữ đường 12A, nhận rõ vinh dự và nghĩa vụ lớn lao trước Tổ Quốc, đã chọn "tọa độ" ở đây từ lâu rồi!
… Trong Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc cuối năm 1966, Đại đội TNXP 759 và Nguyễn Thị Kim Huế đã được tuyên dương Anh hùng LLVTND". Tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc của lực lượng TNXP họp đầu năm 1967, Nguyễn Thị Kim Huế đã được thay mặt đội quân TNXP cả nước lên tặng hoa Bác Hồ.
Cuộc chiến bi tráng trên tuyến 12A đã thu hút rất nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi. Sau một thời gian thâm nhập tuyến đường này, nhà văn Đào Vũ đã xây dựng nên tiểu thuyết "Con đường mòn ấy". Nhà viết kịch lão thành Học Phi (Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật) đã dựng cuộc chiến sinh tử, đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam tại Km 21 - về sau gọi là "Đồi 37" để ghi nhớ ngày 3/7/1966 đau thương - thành một vở kịch, nhưng trong điều kiện cuộc chiến còn tiếp diễn gay go, các đồng chí lãnh đạo địa phương và cả Bộ Văn hoá đã đề nghị tác giả "điều chỉnh" chi tiết những đoàn xe buộc phải vượt lên xác những chiến sĩ vừa hy sinh…
Cho đến nay thì có thể nói rõ sự thật. Thi hài của liệt sĩ Trần Xuân Trường, mãi đến năm 1971, khi xe ủi hạ độ dốc mở đường mới tìm thấy cùng với chiếc đèn pin và cái bi-đông khắc tên anh. Và hôm nay, vì nhiều nguyên do, 43 năm sau trận chiến bi tráng trên "Đồi 37" (có người gọi là "Đồi Cha Quang", do lấy tên một cây cầu nhỏ cạnh đó), căn cứ vào đề nghị từ những đồng đội cũ của các liệt sĩ, trong dịp kỷ niệm 50 năm mở đường Trường Sơn, tỉnh Quảng Bình đã quyết định dựng bia tưởng niệm tại "Đồi 37" và đề nghị truy tặng các liệt sĩ đã hy sinh ở đây danh hiệu tập thể anh hùng.
Cùng với Nguyễn Thị Sâm (cô TNXP Đại đội 759 bị đất vùi ở "Đồi 37" năm xưa) và các đồng đội cũ ở ngành Giao thông Quảng Bình, tôi trở lại đường 12A, thăm thân nhân 7 liệt sĩ đã hy sinh ở "Đồi 37". 43 năm đã qua! Những làng quê huyện Tuyên Hóa - quê hương của các liệt sĩ - rợp bóng cây xanh, bình lặng náu mình bên các dãy núi đá vôi lừng lững, uy nghi, nhưng cuộc sống vẫn nhiều khó khăn.
Gia đình thân nhân các liệt sĩ hầu hết vẫn rất nghèo, nhà không có chỗ để đặt một bàn thờ cho đàng hoàng. Mà 7 liệt sĩ ra đi từ tuổi đôi mươi, đến một tấm ảnh để lại cũng không có! Chỉ còn hai người mẹ trên 90 tuổi - thân mẫu của Nguyễn Thị Thường và Đinh Tân Thành - ngồi lặng bên khung cửa hẹp, ngơ ngác và thảng thốt hướng cặp mắt mờ nhoà nhìn Sâm và Huế - hai đồng đội cũ của Thường và Thành, cố mường tượng hình bóng hai đứa con đã vĩnh viễn nằm lại với Trường Sơn.
"Đồi 37" thì vẫn còn đó, chỗ thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ vẫn chỉ là mô đá xếp tạm bên đường. Nhìn đôi mắt nhòe ướt của Sâm, tôi hiểu vì sao ông Lại Văn Ly, nguyên Phó Chủ tịch kiêm Trưởng ban Bảo đảm giao thông tỉnh Quảng Bình thời chống Mỹ, đã phải thốt lên: "Không dựng được bia tưởng niệm ở "Đồi 37" thì rồi nhắm mắt không yên!".
Có điều, những chiến sĩ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc trên đường 12A năm xưa hẳn sẽ yên lòng khi thấy con đường nay được mở rộng, trải nhựa phẳng lì suốt lên tận đèo Mụ Dạ, suốt ngày đêm những chuyến xe chở nặng gỗ và thạch cao từ Lào nối đuôi nhau về xuôi. Hơn thế, một tuyến mới từ đường 12A chạy suốt ra cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh) đã được khai thông. Một con đường hướng đến tương lai của cả dãy đất miền Trung đang ngày một đổi sắc thay da…

