Dịch giả Nguyễn Đức Vân: Ông đồ Nghệ âm thầm

Thứ Tư, 03/12/2008, 18:00
Mở cảnh: Phóng viên - chính là người viết bài này - đi trên cầu thang khu nhà tập thể quân đội, dừng trước cửa nhà nhà thơ, Đại tá Anh Ngọc, bấm chuông. Chủ nhà ra mở cửa, bắt tay chào hỏi. Chuyển cảnh: hai người ngồi trò chuyện trong phòng khách, trên mặt bàn đặt sẵn bộ tiểu thuyết "Hồng Lâu Mộng", trên tay nhà thơ Anh Ngọc cũng là một cuốn "Hồng Lâu Mộng" lúc khép lúc mở. Máy zoom vào cận cảnh trang bìa cuốn sách...

Đại để, trường đoạn đầu tiên của bộ phim tài liệu về dịch giả Nguyễn Đức Vân mà tôi làm cách đây 5 năm là như vậy. Trong trường đoạn (khá lòng thòng) đó, bộ tiểu thuyết trứ danh của Tào Tuyết Cần tiên sinh, như đã thấy, được đem ra làm "đạo cụ" và được chú ý nhấn mạnh.

Dĩ nhiên là không phải vô cớ mà tôi "bắt" cuốn sách phải xuất hiện: cụ Nguyễn Đức Vân chính là người đã tham gia phần rất đáng kể vào việc dịch "Hồng Lâu Mộng", và con trai út của cụ - nhà thơ Anh Ngọc - là một trong những người mê tác phẩm này "như điếu đổ".

(Nhà thơ Anh Ngọc có lần tiết lộ: chữ "Ngọc" trong cái tên khai sinh Nguyễn Đức Ngọc của ông là do quá yêu hai nhân vật Lâm Đại Ngọc và Giả Bảo Ngọc trong "Hồng Lâu Mộng" mà có!).

Rồi, để có thể có một hình dung tương đối đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật, theo cách thức làm phim tài liệu truyền hình đã kịp trở thành "truyền thống", chúng tôi "kéo quân" về quê cụ Nguyễn Đức Vân: xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, Nghệ An.

Cùng về, có nhà thơ Anh Ngọc và Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú - học trò, và là con rể của cụ. Chuyến đi không phải không có ý nghĩa, nhưng ý nghĩa nhất lại không phải ở nơi đến, mà là ở trên đường xe ôtô đi từ Hà Nội đến Nghệ An.

Cụ Vân là người ngồi giữa, hàng trước mặc áo Vecton trắng.

Mặc cho gánh nặng của cái tuổi thất thập cổ lai hy, Giáo sư Nguyễn Đình Chú dường như không biết mệt vì nỗi đường trường và thời tiết nóng nực (khi đó là tháng 7 âm lịch), ông say sưa kể với tôi về chuyện đời của vị nhạc phụ đáng kính...

Cụ Nguyễn Đức Vân sinh năm 1900. Ông nội là Nguyễn Đức Tân, đậu cử nhân, làm quan tới chức Hành tẩu, từng tích cực hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương, có công lớn với dân làng nên được dân làng lập đền thờ sống.

Cha là Nguyễn Đức Công (tức Hoàng Trọng Mậu), từng đậu đầu xứ, nhưng đã bỏ chốn khoa trường để dấn thân cứu quốc, tham gia phong trào Đông Du - Việt Nam Quang phục Hội, được vua Duy Tân mật phong Tổng tư lệnh nghĩa quân, sau bị thực dân Anh bắt giao cho thực dân Pháp đem về nước kết án xử bắn cùng một lúc và chôn chung một hố với người đồng hương đồng chí là Nguyễn Thúc Đường.

Anh trai cụ - cụ Vân là con thứ hai trong gia đình bốn người con trai - cũng qua đời trong phong trào Đội Quyên, Đội Phấn. Bản thân cụ, do gia sản bị tịch thu hết lần này đến lượt khác, nên phải nghỉ học ở nhà làm ruộng, nhường phần đến trường cho em út. Học vấn của cụ chủ yếu là do tự học mà thành.

Về Pháp văn, cụ thuộc trầm (thuộc nằm lòng) Từ điển Pháp - Việt của Trương Vĩnh Ký (có lẽ cái "gien" này đã được di truyền từ cụ sang con trai út chăng: nhà thơ Anh Ngọc, khi tự học tiếng Nga cũng đã kịp thuộc nằm lòng Từ điển Nga - Việt).

Về Hán văn, do có một thời gian vào sống hầu cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự, nên chắc chắn cụ Vân cũng đã nhận được sự chỉ dạy tận tình của tác giả "Khổng học đăng", để từ đó, sở đắc một vốn Hán học uyên thâm. Năm 1944, cụ Vân tham gia phong trào Việt Minh ở Nghệ An.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, cụ được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phúc Lộc (bấy giờ bao gồm bốn xã Nghi Trung, Nghi Liên, Nghi Diên, Nghi Vạn), sau vài năm cụ lại được điều lên làm ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính huyện Nghi Lộc.

Tuy vậy, có vẻ như cụ Vân không phải là người có "số" phát về ngạch đường quan. Chẳng thế mà cuối năm 1959, cụ xin chuyển ra công tác tại bộ phận Hán Nôm của Ban Cổ Cận thuộc Viện Văn học vừa được thành lập, yên tâm dồn sở học của mình vào công việc của một nhà sưu tầm và dịch thuật văn học cổ cho đến khi qua đời (năm 1974).

 Quả đúng là, giờ đây, khi nhắc tới cái tên Nguyễn Đức Vân, nếu có những ai còn nhớ, thì chính là nhớ đến một Nguyễn Đức Vân - nhà sưu tầm và dịch thuật văn học cổ, chứ không phải một Nguyễn Đức Vân từng làm Chủ tịch xã hay ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính huyện.

(Lúc về quê cụ Vân, chúng tôi có rẽ qua Ủy ban nhân dân xã Nghi Trung để gặp và phỏng vấn ông Chủ tịch xã đương nhiệm vài câu; mới hay rằng ông chẳng biết gì hết về vị Chủ tịch đầu tiên của cái xã này!). Nhưng, điều trớ trêu là thực ra cũng không nhiều người biết tới dịch giả Nguyễn Đức Vân.

Bởi lẽ, cái nghề dịch văn học cổ của cụ vốn đã ít được người đời quan tâm. Thứ nữa, dường như chủ trương một lối sống "hoà kỳ quang, đồng kỳ trần" (hoà mình vào ánh sáng và cát bụi) theo tinh thần của "Đạo đức kinh", cụ chẳng mảy may nghĩ đến việc phải làm sao để trở nên "mọc mũi sủi tăm" trong mắt thiên hạ.

Tuy vậy, giống như ngọc Biện Hoà, có nằm trong đá thì ngọc vẫn là ngọc chứ không phải một thứ đá vô giá trị, thành quả lao động của cụ vẫn mang ý nghĩa của những đóng góp không nhỏ về mặt văn hóa. Cùng với ông Kiều Thu Hoạch, cụ dịch "Hoàng Lê nhất thống chí" của Ngô gia văn phái.

Cùng với ông Nguyễn Sỹ Lâm và nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn, cụ chú giải "Truyện Kiều". Rồi cụ dịch "Vân nang tiểu sử" của Phạm Đình Dục, "Quốc triều đình đối sách" và "Cấn Trai thi tập" của Trịnh Hoài Đức, "Thơ văn Nguyễn Trung Ngạn", "Thơ văn Tự Đức", "Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn" v.v...

Trong công trình đồ sộ của Viện Văn học - có thể nói là đồ sộ nhất tính cho tới nay - là "Thơ văn Lý Trần", thì theo những tài liệu đáng tin cậy, phần sưu tầm và dịch thuật của cụ Nguyễn Đức Vân đã chiếm tới gần 600 đơn vị văn bản trên tổng số 914 đơn vị văn bản!

Để hoàn thành được khối lượng công việc này, suốt quãng thời gian từ năm 1960 đến năm 1965, với một chiếc xe đạp cọc cạch, cụ đã đi hết chùa này đến đình khác ở nhiều nơi trên miền Bắc, sưu tầm, sao chép những gì có liên quan đến thơ văn Lý Trần. 

Ngoài ra, cụ còn là một trong những người dẫn đầu trong việc sưu tầm, dịch và giới thiệu quan niệm văn chương của các tác giả Việt Nam trung đại như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Địch Cát, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Nhữ Bá Sỹ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Miên Thẩm, Phạm Phú Thứ, Lý Tử Tấn, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích v.v... --PageBreak--

Đây chính là nguồn tư liệu quý giá để nhà nghiên cứu Phương Lựu viết cuốn "Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam", một cuốn sách không thể thiếu với bất cứ ai có ý định tìm hiểu văn học Việt Nam trung đại một cách nghiêm túc.

Có thể nói rằng, bằng những thành quả dịch thuật ấy, cụ Nguyễn Đức Vân đã thực sự góp phần hàn gắn lại chút nào đó sự đứt gãy văn hóa đáng tiếc diễn ra từ đầu thế kỷ XX, khi nước Việt Nam chuyển mình hòa vào dòng chảy của thế giới hiện đại.

Lao động cặm cụi của cụ chính là việc tìm trong di sản những gì là tinh hoa của văn hóa dân tộc, chuyển mã ngôn ngữ và đưa nó tới con người ngày hôm nay, giúp họ hiểu hơn quá khứ, và cả hiện tại, của chính mình.

Đó là nói về việc dịch văn học cổ Việt Nam. Còn với việc dịch văn học cổ Trung Hoa, cụ Vân cũng để vào đó không ít tâm sức: "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân (dịch chung với cụ Nguyễn Khắc Hạnh), "Tuỳ Viên thi thoại" của Viên Mai, "Dân ca Trung Quốc" và "Trung Quốc tư tưởng sử" của Dương Vinh Quốc, và đặc biệt là tiểu thuyết "Hồng Lâu Mộng" của Tào Tuyết Cần.

Riêng với kiệt tác "Hồng Lâu Mộng", Giáo sư Nguyễn Đình Chú cho biết: Thoạt tiên, cụ Phó bảng Bùi Kỷ làm trưởng nhóm dịch thuật tác phẩm này, song vừa khởi công chút ít thì cụ Bùi Kỷ qua đời.

Những người tham gia dịch thuật còn lại thì, tuy là những nhà khoa bảng, những bậc thầy về kinh truyện, nhưng lại không mấy thông thạo ngoại thư bằng hoặc như cụ Vân. Vì thế mà trong việc dịch "Hồng Lâu Mộng", có thể nói rằng cụ Vân là người giữ phần chủ công.

Tuy thế, khi bản dịch "Hồng Lâu Mộng" đem in, nhà xuất bản có ý ghi tên cụ Vân là người hiệu đính, cụ lại kiên quyết từ chối, với lý do: "Tôi chỉ là phận học trò các cụ, đâu dám, làm thế là hỗn".

Về phần người viết bài này, khi đã ít nhiều hiểu rõ hơn về cuộc đời và hoàn cảnh sống của cụ Nguyễn Đức Vân, đọc lại "Hồng Lâu Mộng" chợt thấy ngạc nhiên: không biết tại sao, một ông đồ Nghệ quanh năm chỉ biết ăn cơm độn, ở nhà tập thể, giản dị đến thế quê mùa đến thế mà lại dịch uyển chuyển nuột nà đến thế với những trang miêu tả cảnh sinh hoạt ăn chơi vương giả đài các của đám quý tộc Trung Hoa?

(Giống như tôi đã từng ngạc nhiên rằng không biết tại sao một ông linh mục như Nguyễn Khắc Dương - cũng lại là một người Nghệ - lại dịch hay đến thế với những trang miêu tả cảnh ân ái nóng bỏng trong tiểu thuyết "Vạn Xuân" của Yveline Feray?).

Nhưng vẫn còn có điều hơi đáng tiếc, ở chỗ: đành rằng "Hồng Lâu Mộng" là một tác phẩm (hư cấu) lớn, nhưng "Tuỳ Viên thi thoại" của Viên Mai, mà cụ Vân bỏ rất nhiều thời gian và công sức để dịch, thì cũng lớn không kém, khác chăng chỉ là việc đây là một tác phẩm thuộc loại "lý luận phê bình" về thơ mà thôi.

Thế nhưng phải chờ đến năm 1999, nghĩa là 25 năm sau khi cụ Vân qua đời, viên ngọc trong kho tàng lý luận văn học Trung Hoa cổ điển này mới lần đầu tiên được in. Đã vậy, xem ra sự tiếp nhận của bạn đọc - ngay cả những người làm thơ - với cuốn sách cũng khá lãnh đạm. Tư tưởng nghệ thuật của Tuỳ Viên tiên sinh đã trở nên lạc hậu với hiện tại chăng?

Cho đến lúc nghỉ hưu, cụ Vân mới chỉ là một cán sự bậc ba. Có thể người ta "quên" làm chế độ cho cụ. Nhưng phần nhiều thì do bản tính khiêm nhường, hiền lành, chỉ biết chăm chắm với công việc chứ không quen "lo lắng" cho bản thân, cụ cũng "quên" không bảo người ta làm chế độ cho mình.

Thêm nữa, khi qua đời, cụ Vân cũng không thuộc hàng những người thiên cổ để lại cái danh lừng lẫy, cho dẫu cụ đã lao động tận lực tận tâm trong lĩnh vực chuyên môn của mình, cho dẫu lúc sinh thời cụ được hai vị học giả nức tiếng là Cao Xuân Huy và Đặng Thai Mai đánh giá rất cao về năng lực và nhân cách.

Chẳng sao hết. Bởi lẽ, điều chắc chắn là ông đồ Nghệ Nguyễn Đức Vân không khi nào, dù chỉ trong ý nghĩ, đặt mình vào những nấc thang giá trị ấy. Người con trai út của cụ đã rất hiểu cha mình khi ông viết trong Lời bạt của bản dịch cuốn "Tuỳ Viên thi thoại":

"Trên đời này rất, rất cần những con người toàn tâm toàn ý đi sâu vào lãnh vực chuyên môn mà mình tâm huyết, kiên trì con đường lao động âm thầm, không màng đến lợi lộc hư danh, lặng lẽ mang đến cho đời những sản phẩm thực sự có ích, thực sự cần thiết, bất kể lớn hay bé, miễn là có thể hỗ trợ cho con người trong quá trình nhận thức và hoàn thiện cuộc sống".

Bộ phim về dịch giả Nguyễn Đức Vân của tôi kết lại ở cảnh con cháu cụ sum vầy, trò chuyện ấm cúng dưới ánh mắt hiền hậu bao dung của người ông, người cha đang từ tấm ảnh thờ nhìn xuống. Cảnh rất cũ. Và sáo. Nhưng quả thực là người làm phim cũng... "hết võ". Chỉ mong sao khán giả khi xem sẽ nhận ra cái "thông điệp" này: Một con người Tử tế (viết hoa) đến thế, ắt sẽ phải là người để phúc ấm cho cháu con

Bảo Hoài
.
.
.