Bậc đại nhân, đại trí, đại dũng
Tháng 7/2007, với tư cách đặc phái viên của Hội Nhà văn Việt
Người đã dũng cảm, kiên cường tự cứu mình trong tình cảnh gần như đơn thương, độc mã (Trong lần bị tù ở Hồng Kông, Bác còn có các đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương và nhiều người bạn, có luật sư Rôdơbai… bên cạnh). Trong cuộc chiến đấu sinh tử đó, tài năng, trí tuệ, lòng quả cảm của bậc Đại Nhân, Đại Trí, Đại Dũng được huy động tối đa để giành chiến thắng.
Ở bài viết ngắn này tôi chỉ kể một số mẩu chuyện (tư liệu) nhỏ để thấy được cái trí, cái dũng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 29/8/1942, Bác Hồ cùng người dẫn đường Dương Đào đến thôn Túc Vinh (thuộc huyện Thiên Bảo) thì bị lính hương cảnh Hướng Phúc Mậu bắt giữ, giải lên trình trưởng thôn Mã Hiển Vinh. Bị giam một đêm. Hôm sau Bác bị giải trở lại Thiên Bảo, rồi lên Tịnh Tây. Lê Quảng Ba (người dẫn đường cho Bác từ Pác Bó sang đến Pà Mông) vào nhà lao thăm nom. Bác đã trao cho Lê Quảng Ba một lá thư dặn cách hành xử để cứu Bác ra tù có 3 điều: Một là, lập tức thông báo cho mọi người biết: Hồ Chí Minh đã bị bắt tại Quảng Tây. Hai là, Đoàn đại biểu Việt
Bây giờ với độ lùi lịch sử nghiên cứu lại những lời nhắn của Bác Hồ với Lê Quảng Ba mới thấy rõ sự nhận định có tầm sâu rộng, chính xác của Bác để đưa ra những quyết sách duy nhất đúng: Thông báo Hồ Chí Minh đã bị bắt để mọi người tìm cách cứu, nhưng căn bản trước mắt là để bọn Tưởng biết mà không dám thủ tiêu.
![]() |
Khẳng định đoàn đi 3 người để nói cho bọn Tưởng biết: Ta là Đoàn đại biểu Việt
Tự nhận mình là đảng viên Cộng sản, bởi giấu cũng không được mà còn tăng thêm sự nghi ngờ, với lại lúc đó đang trong thời kỳ Quốc - Cộng hợp tác kháng Nhật nhận như thế cũng không có gì nguy hiểm. Nhưng tại sao Bác lại nói: "Không có bất kỳ liên hệ nào với Đảng Cộng sản Trung Quốc". Bởi vì, mặc dù Quốc - Cộng hợp tác thật nhưng vẫn gằm ghè triệt hạ nhau. Cần phải tránh đi để khỏi liên lụy.
Điều ước đoán của Bác quả là đúng. Sau này ở Trùng Khánh, tướng Phùng Ngọc Tường của quân đội Tưởng Giới Thạch (có cảm tình với Đảng Cộng sản Trung Quốc) đã chất vấn Tưởng Giới Thạch: "Hồ Chí Minh có phải là đảng viên Cộng sản không, tạm chưa bàn mà dù có phải, cũng là Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta có cần thiết và có quyền bắt giam người của Đảng Cộng sản ngoại quốc hay không? Thành viên Đoàn cố vấn Liên Xô chẳng phải là Đảng viên Đảng Cộng sản đấy sao? Tại sao ta không bắt giữ họ". (Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù” - Trang 611).
Suy nghĩ, tính toán của Bác thật chính xác, gần một tháng bị giam ở Tịnh Tây, Hồ Chí Minh bị nhà đương cục Tịnh Tây tra xét nhiều lần mà không thể khép tội Hán gian cho Bác. Người trực tiếp lấy cung là Vương Chí Ngũ (năm 1945, Vương Chí Ngũ đóng lon Đại tá, trong đoàn "Hoa quân nhập Việt " đến Hà Nội đã được vị Chủ tịch nước đáng kính, trước đây là người tù trong nhà ngục Tịnh Tây, tiếp đãi ân cần). Cuộc đấu lý giữa Hồ Chí Minh với bọn Vương Chí Ngũ thường là căng thẳng, nhưng bao giờ phần thắng cũng nghiêng về "kẻ yếu" là người tù Hồ Chí Minh. Có tên nóng mắt muốn khảo đả (tra tấn) nhưng Vương Chí Ngũ bảo: "Người này già dơ lắm, không thể khảo đả mà được, chi bằng cứ giải lên trên lĩnh thưởng, êm chuyện".
Và cuộc giải đi bắt đầu từ Tịnh Tây qua 13 huyện thị, mà không nơi nào lấy được cung để khép tội Hồ Chí Minh, bởi như chúng nói "người này quá già dơ". Luôn kiên trì với sách lược đấu tranh, bằng tài trí, lòng quả cảm của mình, Hồ Chí Minh đã đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù và chiến thắng, buộc Tưởng Giới Thạch phải cho ra tù ngày 10/9/1943 tại Liễu Châu.
Ra khỏi tù nhưng vẫn bị bọn Tưởng quản thúc, không cho về nước, Hồ Chí Minh biết rất rõ điều đó nên cố gắng chờ thời, tìm ra, tạo ra cơ hội để "thoát cũi, sổ lồng". Bằng tài trí của mình, Người đã biến yếu thành mạnh với việc vận dụng thành công kế sách Phản khách vi chủ (Biến khách thành chủ - một kế trong tam thập lục kế của binh pháp Trung Hoa cổ).
Số là, tháng 10/1942, một tổ chức có tên là Việt Nam cách mạng Đồng minh Hội, được Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu đứng ra thành lập, gồm một số nhân sĩ các đảng phái người Việt hoạt động ở Liễu Châu, người đứng đầu là Nguyễn Hải Thần. Hội được thành lập nhưng bị chia rẽ sâu sắc. Nguyễn Hải Thần không có uy tín nên hội không triển khai hoạt động được, bởi vậy Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê quyết định cải tổ hội này.
Trương Phát Khuê biết rằng Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh do Người lãnh đạo đã có cơ sở rộng rãi và uy tín rất cao trong quần chúng nên quyết định mời Hồ Chí Minh tham gia cải tổ Việt Nam cách mạng đồng minh Hội. Hồ Chí Minh thấy đây là một cơ hội tốt để thực hiện kế sách Phản khách vi chủ nên đã nhận lời.
Hồ Chí Minh đề nghị tổ chức đại hội các đoàn thể cách mạng hải ngoại thay cho Đại hội toàn quốc Việt
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia cải tổ Việt Nam cách mạng đồng minh hội, lái hoạt động của hội có lợi cho cách mạng Việt Nam thể hiện tài trí của Người và với uy tín cũng như hoạt động rất có hiệu quả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trương Phát Khuê ngày càng tin tưởng và nể trọng Người, đã "tạo điều kiện" cho Người về nước.
Ngày 9/8/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn 18 thanh niên đã qua lớp tập huấn đặc biệt rời Liễu Châu về nước, qua Long Châu, Na Pha vào cửa khẩu Bình Mãng - Sóc Giang, trực tiếp lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực tham gia cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Cuộc vận động tập trung vào chữ Nhân. Học tập Người, ta còn học thêm chữ Trí, chữ Dũng. Phải hoàn thiện Nhân, Trí, Dũng mới có thể làm cho dân giàu, nước mạnh được. Đó là điều hiển nhiên và chắc chắn

