Ăn cây táo, rào cây sung
Đã hơn hai thập niên trôi qua kể từ khi Liên bang Xôviết chính thức tan rã tháng 12/1991 nhưng cho tới nay, nỗi đau vẫn còn chưa lắng lại trong lòng không ít cư dân ở khu vực đã từng chiếm tới một phần sáu thế giới này. Và nhiều người trong số họ cho tới hôm nay vẫn coi vị Tổng thống đầu tiên và cuối cùng của Liên Xô, Mikhail Gorbachev là kẻ phản bội, phải chịu trách nhiệm chính về sự kiện đáng được coi là bi thảm nhất trong lịch sử thế kỷ XX này. Mọi tai họa đã bắt đầu từ những cải cách mang tên Perestroika...
Đi không định lối
Perestroika có thể được coi như sự kiện chính yếu trong cuộc đời chính khách khá dài lâu của Gorbachev. Đã và đang tồn tại những cách nhìn khác nhau đến trái ngược về perestroika, bắt đầu ở Liên Xô trước đây vào giữa thập niên thứ 8 của thế kỷ trước như một cố gắng “hiệu đính” mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa thực tế cho thích ứng hơn với thực tế mới nhưng kết cục đã trở thành cú đấm từ trong ra làm tan vỡ Liên bang Xôviết và Moskva trở thành đơn độc trong không gian rộng lớn Á- Âu cũ tới mức, cả chục năm qua vẫn không hồi phục lại được vị thế xứng đáng với tiềm năng truyền thống.
Và đó là nguyên nhân chính khiến người Nga đã, đang và sẽ còn oán giận Gorbachev. Không ngẫu nhiên mà quá trình dẫn tới tan vỡ Liên bang Xôviết cũng là giai đoạn đi đến “thân bại danh liệt” về phương diện tinh thần ái quốc của con người đã là biểu tượng của perestroika. Từ đấy đến nay chưa khi nào Gorbachev được người dân Nga coi trọng hay đề cao.
Hơn thế nữa, người Nga cho tới hôm nay vẫn oán trách ông ta về những hành động “ăn cây táo, rào cây sung”, làm “mất mặt” quốc gia mình để nhường chỗ tốt cho những đối thủ chính trị và quyền lợi. 15 năm sau khi perestoika bắt đầu, vẫn còn tới 56% số người Nga được hỏi ý kiến đã đánh giá tiêu cực về những cải cách mà Gorbachev đã tiến hành khi ông ta còn ngồi trên ghế Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (KPSS). Năm 2001, ngay trước khi Gorbachev chuẩn bị kỷ niệm lần sinh thứ 70 (ông ta sinh ngày 2/3/1931), tuyệt đại đa số người dân Nga vẫn cho rằng Gorbachev gây hại cho nước Nga hơn là mang lại lợi ích, mặc dù theo chính danh, một chính khách ở tầm thượng đỉnh như ông ta chỉ có quyền tận tâm hữu ích cho quốc gia mình...
Gần đây nhất, ngày 14/11/2012, khi Gorbachev tới dự lễ ra mắt cuốn sách mới của ông ta Đối diện với chính mình, ông ta đã buộc phải đứng ngây như phỗng khi một nhóm thanh niên tràn vào phòng họp và hô vang: Nhân dân không quên sự phản bội!.
Hình ảnh như vậy của Gorbachev trong con mắt của dân chúng Nga có những cơ sở rất xác đáng. Như chính lời Gorbachev sau này tiết lộ, ông ta cùng những người đồng lõa ngay từ khi khởi xướng perestroika đã hướng tới mục tiêu xoá bỏ tinh thần xã hội chủ nghĩa trong hệ thống quốc gia Xôviết mà hoàn toàn không nghĩ tới việc nếu thiếu “chất keo kết dính” đó thì sẽ không thể tồn tại nổi quốc gia theo tính liên bang mà họ đang là những người cầm chịch.

Và cứ thế, bị động với thời cuộc, lại bị kích động bởi những lời lẽ đường mật của những đối thủ lợi quyền của nước Nga, vốn rất biết cách “giả rắn làm lươn”, ban lãnh đạo KPSS với bàn tay chèo lái của Gorbachev đã liên tiếp phạm những sai lầm xâu chuỗi dẫn đến sự tan rã của Liên Xô, làm chao đảo thế cân bằng sát sạt trên bản đồ chính trị thế giới. Lầm tưởng rằng cải tổ theo cách mà ông ta đã tiến hành có thể giúp Moskva tạo dựng những mối quan hệ mới nhưng hữu lợi như cũ đối với các nước Đông Âu và Trung Âu từng nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới cũng như với những nước cộng hòa trong không gian “hậu Xôviết”, Gorbachev đã mắc mưu phương Tây, tự “nổi lửa lên em” dưới ghế mình ngồi nên cuối cùng trở nên “tay trắng” ngồi không nhìn các đối thủ cạnh tranh lợi quyền chia “quả thực”.
Trong bài trả lời phỏng vấn gần đây cho tờ báo Anh The Times, Gorbachev không khỏi cảm thấy cay đắng khi Liên minh châu Âu (EU) đang tiến hành cuộc chinh phục mới không gì cưỡng nổi của họ sang phần Đông châu Âu và tất nhiên sẽ gây những ảnh hưởng không nhỏ cho quyền lợi chính đáng của nước Nga. Liệu những người Nga chân chính có tha thứ cho ông ta về những gì ông ta đã gây ra hai thập niên trước để sau 20 năm trôi qua, họ vẫn tiếp tục phải “ngậm bồ hòn” như thế?!
Nếu không có bàn tay chèo lái cứng rắn của Tổng thống Vladimir Putin, hẳn nước Nga hôm nay đã không thể trụ lại được trên thế độc lập trước sức ép nhiều mặt của phương Tây đòi biến cải xã hội theo mô hình ngoại lai và tất yếu lợi bất cập hại. Với vị thế và các điều kiện địa chính trị của mình, Moskva rõ ràng là quá “kềnh càng” trong khuôn khổ những định chế đang có của phương Tây.
Những biến động chính trị dưới những cái tên mỹ miều của các loại “cách mạng” sắc màu ở một số nước cộng hòa từng thuộc Liên bang Xôviết cũ thực chất không nhằm mục đích cải thiện đời sống người dân ở đó, cũng như không phải là làm dân chủ hoá thực sự con đường đi tới tương lai của họ, mà chỉ là để tạo thêm những cú hích khá thô bạo dù thường được trang điểm rất xôm trò, nhằm tách những bạn đồng minh cũ của Moskva ra xa Điện Kremli, tức là làm cho họ phụ thuộc hơn nữa vào phương Tây, trước hết là Mỹ. Và ít ai tin rằng những sự việc như thế lại có lợi thực sự cho nước Nga.
Không một dân tộc nào có thể gây dựng tương lai xứng đáng với mình bằng cách rước những sản phẩm “made in” ngoại quốc về cưỡng bức gieo giống trên một nền đất xa lạ với nơi mà những sản phẩm đó được làm ra. Dân chủ hóa xã hội là một quá trình cần được diễn ra đủ ngày đủ tháng, hợp thổ hợp thung và phải bằng sự nỗ lực của từng dân tộc, từng quốc gia. Nhìn từ góc độ này, Gorbachev là một tấm gương tày liếp để cho những nhà “dân chủ hóa” nào đó đang rắp tâm “cõng rắn cắn gà nhà” đến nỗi cuối cùng bị lâm vào tội phản bội tổ quốc, phản bội dân tộc.
Không có một “Thiên triều” nào dù ở phương Đông hay phương Tây có quyền và có thể tạo nên phép lạ đổi đời cho các dân tộc khác. Muốn dân tộc mình, đất nước mình có được vị trí xứng đáng trên trường quốc tế, những người chung một dòng máu cần ngồi lại cùng nhau để cùng phấn đấu, cùng nỗ lực làm việc, cùng khắc phục những khiếm khuyết của hiện tại để gây dựng tương lai ngày một tốt đẹp hơn. Thái độ vọng ngoại, sùng ngoại với tư duy láu cá dường như có thể lợi dụng được những yếu tố chính trị bên ngoài cho những mục đích tư lợi bên trong, không những không xứng đáng với tư cách con người mà còn tất yếu sẽ dẫn tới những bi kịch vong bội, phản dân hại nước, luôn luôn bị chế giễu, phỉ nhổ trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Đã, đang và sẽ không có một con đường nào khác.
Người trẻ dễ tha hóa
Nhìn lại các chặng đường hoạt động chính trị của Gorbachev, có thể thấy rõ một điều: bao giờ ông ta cũng là người trẻ nhất trong số các cán bộ đồng cấp. Khi còn học ở Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva mang tên Mikhail Lomonosov (MGU), Gorbachev đã là một trong những sinh viên trẻ nhất (bạn đồng môn của ông ta đa phần là các cựu chiến binh, trở về giảng đường đại học từ chiến trường khói lửa nên đều đã đứng tuổi). Và ông ta cũng là chàng trai trẻ nhất được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô (KPSS).
Ở độ tuổi 21, khi mới chỉ học năm thứ hai. Gorbachev cũng từng là một trong những cán bộ đảng trẻ nhất trong Khu uỷ Stavrapol. Năm 1970, khi Gorbachev trở thành Bí thư Khu uỷ Stavrapol ở tuổi 34, ông ta cũng đã là một trong những người trẻ nhất giữa 200 cán bộ tỉnh uỷ, khu uỷ và nước cộng hòa ở Liên Xô cũ. Tới 40 tuổi, sau một năm ngồi ở ghế dự bị giống như tất cả mọi người, Gorbachev được đưa vào Ban chấp hành Trung ương (BCHTW) KPSS. Một năm sau, ông ta trở thành Ủy viên Bộ Chính trị KPSS trẻ nhất thời đó; các ủy viên BCT khác, trừ Bí thư Thành uỷ Leningrad, ông Roman Romanov, tuyệt đại đa số đều ở độ tuổi cha ông ta!
Sau khi Tổng bí thư Yuri Andropov qua đời, Gorbachev và Romanov trở thành hai ứng cử viên duy nhất có thể đủ điều kiện để lên kế vị. Đó là hai tính cách khác nhau: Gorbachev mềm mỏng và dễ thích ứng với hoàn cảnh xung quanh nên được lòng đa số, còn Romanov với phong cách cứng rắn đến độ quyết liệt lại làm không ít người e ngại.
Giữa hai nhân vật rất nổi bật này cũng có không ít điểm khác nhau trong cuộc đời hoạt động chính trị. Mọi việc diễn ra trên hoạn lộ của Gorbachev có vẻ như dễ dàng và trôi chảy, lúc nào ông ta cũng là cán bộ nguồn và được các cấp trên hết lòng nâng đỡ. Còn Romanov thì phải trải qua không ít thử thách khó khăn mới lọt được vào thượng tầng chính trị Xôviết.
Khi ông Yuri Andropov còn khoẻ và vững tay cầm lái con thuyền Xôviết, Gorbachev và Romanov mặc dầu trong sâu thẳm tâm tư không mấy hợp nhau vẫn bổ sung tốt cho nhau trong công việc, bởi chính sự khác nhau trong tính cách của hai người đã tạo nên sự cân bằng của cơ chế. Romanov chủ trương duy trì liên bang trên cơ sở tư tưởng dân tộc cứng rắn và những sự thắt chặt cơ chế truyền thống. Còn Gorbachev (vốn là người đa phần trung tính về mặt tư tưởng và gió chiều nào che chiều ấy) lại muốn sử dụng những cải cách kinh tế mềm dẻo mang nặng phần dân tuý...
Và bởi hai người này không ai tỏ ra vượt trội hơn hẳn ai nên cả hai rốt cuộc đã phải cùng bỏ phiếu cho một Ủy viên khác của BCT là ông Konstantin Chernenko, lúc đó đã cao tuổi và sức khoẻ “có vấn đề” lên làm người thay ông Andropov làm Tổng bí thư. Cả Gorbachev lẫn Romanov đều hy vọng rằng sau một thời gian không dài nữa, họ có thể “tích chưởng” đủ để vượt lên trên “đối thủ” và trở thành Tổng bí thư, một khi ông Chernenko qua đời.
Người đầu tiên đưa ra ý tưởng bầu ông Chernenko làm Tổng bí thư chính là Gorbachev và nhờ thế, đã nhận được sự ủng hộ mặc nhiên của các trưởng lão trong thượng tầng chính trị Xôviết, mặc dù ông Chernenko không hẳn đã là sự lựa chọn tốt nhất có thể có lúc đó. Những người già hay nghĩ rằng, nếu một ai trong độ tuổi của họ được tôn vinh nghĩa là họ cũng được tôn vinh. Thực ra, việc này thường là lợi bất cập hại. Không có gì loại bỏ vai trò của các chính trị gia lớn tuổi hơn là việc giả bộ kính trọng vượt bậc một người trong số họ để tự họ phá giá mình bởi những việc lực bất tòng tâm. Gorbachev không hẳn đã có thiện ý khi muốn tất cả xã hội Xôviết mục sở thị sự bất lực của thế hệ chính khách quá lớn tuổi mà vẫn muốn “thế thiên hành đạo”. Làm những việc không hợp sức mình thực chất là tự phá giá mình.
Trong thời gian ông Konstantin Chernenko làm Tổng bí thư, sự cạnh tranh thế lực giữa Gorbachev và Romanov thoạt đầu đã dẫn tới việc cán cân lực lượng nghiêng về phía ông Romanov, lúc này đã tranh thủ được sự ủng hộ của các quân nhân thông qua mối quan hệ với Nguyên soái Ogarkov. Gorbachev có vẻ như được phương Tây ưa chuộng hơn, nhưng chính sự ưa chuộng đó lại làm cho ông trở nên “khả nghi” trong con mắt của nhiều nhân vật chủ chốt trong Điện Kremli.
Ngày 11/3/1985, Bộ Chính trị BCHTW Đảng Cộng sản Liên Xô đứng trước một nhiệm vụ không đơn giản là lựa chọn thủ lĩnh mới. Ai đó bên ngoài dễ có cảm giác rằng Gorbachev khi ấy có quá nhiều đối thủ, lại toàn các “trưởng lão” như Bí thư Thành ủy Leningrad Romanov hay Bí thư Thành ủy Moskva Grishin... Thực ra, lợi thế của Gorbachev là điều hiển nhiên đối với tất cả những người trong cuộc: mặc dù mới 54 tuổi nhưng Gorbachev trong suốt thời gian Tổng Bí thư Chernenko ốm, đã được phân công điều hành công việc trong Đảng. Việc này gần như chứng tỏ rằng cựu Bí thư Khu ủy Stavropol đã đặt một chân vào chức Tổng Bí thư mới.
Thực tế là, chính một trưởng lão thế hệ cao nhất Bộ Chính trị là Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô lúc đó, Andrey Gromyko, đã đề nghị bầu Gorbachev làm Tổng bí thư tại Hội nghị BCHTW Đảng Cộng sản Liên Xô sau khi Chernenko qua đời. Không có ý kiến nào cưỡng lại đề nghị này cả. Những ủy viên Bộ Chính trị lớp trước đều đã nhận thức được rằng, nếu tiếp tục bầu một nhân vật cao tuổi vào chức vụ Tổng Bí thư thì có thể sẽ làm tình hình trong nước trở nên căng thẳng không cần thiết. Hơn nữa, nhu cầu đổi mới hệ thống xã hội Xôviết theo định hướng XHCN đã thực sự trở nên cấp bách và Bộ Chính trị hơn ai hết hiểu rõ điều này và muốn biến điều này thành hiện thực.
Bộ Chính trị cũng hiểu rằng, để thực hiện nhiệm vụ mới mẻ nhường ấy, cần phải có một thủ lĩnh năng nổ và trẻ trung hơn các “trưởng lão”. Trước đó, trong cuộc họp bất thường nửa đêm của Bộ Chính trị vào ngày mà Tổng Bí thư Chernenko vừa mất, chính Grishin đã là người đầu tiên nhắc tới Gorbachev khi bàn về nhân sự cho chức Tổng Bí thư mới (của đáng tội, sau này, khi trở thành Tổng bí thư rồi, Gorbachev đã buộc ông Grishin phải về hưu và dành chức Bí thư Thành ủy Moskva cho Boris Yeltsin, người mà về sau lại thẳng tay loại Gorbachev khỏi chính trường - “ân oán giang hồ” rắc rối đến thế!).
Trẻ, đó là nhu cầu tự nhiên của thời đại mới, sau khi chỉ trong vài ba năm liên tục, hai Tổng Bí thư (Andropov và Chernenko) qua đời vì tuổi già và bệnh nặng.
Thoạt đầu, vị Tổng Bí thư trẻ được coi như là người kế tục sự nghiệp thắt chặt kỷ cương phép nước mà Andropov đã khởi xướng. Chính Andropov từ nhiều năm trước đã “phát hiện” ra tiềm năng của người lãnh đạo cơ quan Đảng khu Stavropol và điều lên Moskva. Gorbachev được giao quản lý nông nghiệp, lĩnh vực mà thường những ai không còn triển vọng thăng tiến mới phải nhận làm vì dù có cố gắng đến mấy cũng rất khó có thể làm gì để nền nông nghiệp Xôviết phát triển đúng với tiềm năng khổng lồ của nó. Tuy nhiên, nhờ sự ưu ái của Andropov nên dù Chương trình lương thực được bắt đầu rất hoành tráng năm 1982 bị phá sản nhưng không vì thế mà Gorbachev bị liên lụy. Trái lại, ông vẫn không ngừng được thăng tiến.
Trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 3/1985, ngay trong Hội nghị tháng 4 của BCHTW, Gorbachev đã đưa ra đường hướng cải cách. Trước hết, ông muốn làm như Andropov đã làm: siết chặt kỷ cương cả trong sản xuất lẫn trong bộ máy quản lý các cấp. Một trong những nhiệm vụ chính là triển khai “đạo luật khô” (cấm rượu), làm khốn khổ những mugích Nga quen uống vodka như nước lã. Trong kinh tế, dự kiến sẽ đẩy mạnh công nghiệp chế tạo máy nhằm trang bị lại toàn bộ nền sản xuất bằng công nghệ mới. Tuy nhiên, kết quả mong đợi đã không đạt được... Và đó mới chỉ là phần đầu của tai họa. Điều thực sự sẽ làm cho Liên bang Xôviết dần dà mất chỗ đứng vững chắc của mình trên trường quốc tế chính là tư tưởng thoái lui của Gorbachev và những đồng đội thân cận của ông trong lĩnh vực quân sự.
Theo tư duy lành mạnh thông thường, nếu muốn được tiếp tục sống trong hòa bình, lúc nào cũng phải sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu với bất cứ kẻ thù tiềm tàng nào. Gorbachev lại tư duy theo kiểu thoái lui. Sau khi Liên Xô đạt được thế cân bằng quân sự chiến lược với Hoa Kỳ, một bộ phận trong xã hội bắt đầu coi lực lượng vũ trang Xôviết như một gánh nặng không cần thiết, “nhọc mình mà chẳng nên cơm cháo gì”. Họ cho rằng, các khoản tiền đầu tư cho công nghiệp quốc phòng là vô ích, thậm chí có hại cho việc nâng cao đời sống nhân dân và cản trở việc phát triển quan hệ với phương Tây. Điều đáng nói là không chỉ một bộ phận giới trí thức tiểu tư sản mới suy nghĩ như thế mà ngay cả một số nhân vật thân cận với bộ máy lãnh đạo Đảng cao cấp cũng bị nhiễm “virus chiến bại” này.
Theo sách 6 năm với Gorbachev: ghi lại theo nhật ký, cựu trợ lý Tổng Bí thư Chernayev nhớ lại một câu chuyện khi ông ta còn là Trưởng ban Đối ngoại BCHTW Đảng Cộng sản Liên Xô: “Ngày 4/6/1985, các cán bộ Văn phòng TW Đảng tham gia huấn luyện quân sự. Phó Tổng tham mưu trưởng Akhmomeyev đọc bài giảng “Đặc điểm của chiến tranh hiện đại”. Ông trình bày “cực kỳ rõ ràng” tình hình quốc tế và đường lối quân sự của nước ta, cũng như về việc người Mỹ đang chuẩn bị chiến tranh như thế nào. Để kết luận, ông than phiền rằng ở đâu đó tại các nước cộng hòa, các tỉnh, các khu vực, một số đồng chí lãnh đạo còn chưa làm hết sức mình để biến đất nước thành một trại lính. Theo quan điểm của ông, có lẽ như thế mới là lý tưởng đối với quốc gia.
Rồi sau đó chiếu một bộ phim Mỹ. Thực kinh ngạc: những quả tên lửa có thể tìm diệt đúng mục tiêu ở cách hàng trăm, hàng nghìn cây số; những hàng không mẫu hạm, những tàu ngầm, những xe tăng có thể làm đủ mọi việc... Những thành tựu không thể nào tưởng tượng nổi của nền khoa học hiện đại... Và tất nhiên, những chi phí khủng khiếp.
Tôi cứ ngồi xem và nghĩ, chính chúng ta cũng đã tiêu tốn nhiều hơn thế và chỉ là để chuẩn bị cho một cuộc tự sát của nhân loại. Rồ dại quá đi mất! Xem những thước phim ấy, trong khoảnh khắc, tôi như bị lên đồng. Tôi muốn đứng phắt lên hỏi nguyên soái: liệu có sao không nếu chúng ta tập trung tất cả những vũ khí ấy mà tiêu hủy nó đi, những thứ vũ khí mà có lẽ không tồi hơn của người Mỹ vì các nhà khoa học của chúng ta không hề kém hơn của người Mỹ! Và thét vang lên khắp thế giới: Đủ rồi. Chúng tôi đã nhìn được một cách bình thường và tư duy lành mạnh... Nếu thế thì sao? Người Mỹ sẽ tấn công chúng ta ư?”.
Thật nguy hiểm khi một người lãnh đạo lĩnh vực quan hệ quốc tế của Đảng Cộng sản Liên Xô lại có thể suy nghĩ một cách khờ khạo như vậy. Và vấn đề ở đây không chỉ ở Gorbachev và những đồng đội của ông, mà cả ở một bộ phận xã hội Xôviết, những người trưởng thành ở thời Nikita Khrusov lên nắm quyền. Nhóm người này về sau coi viện sĩ Sakharov là “thầy tinh thần”. Vị viện sĩ này trong khoa học vật lý có lẽ là một nhà bác học vĩ đại, nhưng trên phương diện xã hội, ông lại tư duy đầy màu sắc lý tưởng hóa và ngây thơ. Ông mơ ước có một “chính phủ toàn thế giới”, ông luôn thích nói về vai trò thượng đẳng của các nhà kỹ trị để xây dựng nên một xã hội dựa chủ yếu trên những tiền đề hữu lý...
Theo lời tường thuật của Anatoly Sobchak, cố Thị trưởng Saint Peterburg, một trong những tư tưởng chủ đạo của viện sĩ Sakharov là làm sao để có một bản hiến pháp mà trong đó là ưu thế của những mục tiêu toàn cầu để sống sót của nhân loại trước bất cứ một quyền lợi khu vực, quốc gia, dân tộc, giai cấp, đảng phái, phe nhóm và cá nhân nào”. Thực đẹp đẽ nhưng cũng thật là không tưởng. Và kẻ thù của nước Nga đã không hề chậm trễ trong việc kích động lối tư duy như thế để chung cuộc làm yếu đi sức mạnh thực sự của chế độ Xôviết.
Giải trừ quân bị là một tư tưởng đúng. Của cải trên trái đất không phải là vô tận để con người có thể triền miên theo đuổi các cuộc chạy đua vũ trang bất tận như trong giai đoạn Chiến tranh lạnh. Nhưng say sưa với giải trừ quân bị đến mức trở nên mất cảnh giác hay thoái chí và thụ động như ban lãnh đạo Liên Xô dưới thời Tổng Bí thư Gorbachev là một hành vi tự sát. Phương Tây hiển nhiên đã rất thích thú với những gì mà Gorbachev đã làm với Liên bang Xôviết. Những nhà lãnh đạo các cường quốc phương Tây cùng thời với Gorbachev đều coi ông là tri âm, tri kỷ, ít ra là trong những lời tuyên bố nhân các dịp lễ lạt cá nhân hay liên quốc gia.
Có năm Gorbachev còn được bầu là “người Đức hay nhất” (?!) nhờ những gì đã đóng góp vào việc thống nhất nước Đức. Tuy nhiên, cho tới hôm nay, ông vẫn không phải là vị chính khách được đồng bào mình ưa chuộng – người Nga sẽ không bao giờ tha thứ cho ông vì sự tan rã của Liên bang Xôviết, một trong những sự kiện bi thảm nhất của lịch sử nhân loại thế kỷ XX. Chơi trò đòn xóc hai đầu tất yếu sẽ bị mất cả chì lẫn chài.
Đó chính là con đường chiến bại của công cuộc cải tổ, được thực hiện theo lối tư duy nhuốm màu ảo tưởng của Gorbachev
