Nghe đài, làm báo trong “địa ngục” Côn Đảo

Thứ Ba, 28/04/2026, 11:24

51 năm trôi qua, thế hệ những người tù Côn Đảo ngày ấy không còn nhiều nữa. Nhưng, năm nào cũng vậy, những người còn sống gặp nhau, kể lại góc khuất rất con người về tình bạn trong tù, vết sẹo còn chưa lành, bao lần tuyệt thực đến kiệt quệ. Điều đặc biệt, giữa bóng tối tù đày, trong xiềng xích, đói khát và khổ đau, người tù vẫn viết báo, nghe radio, truyền tin...

Làm báo trong tù

Những ngày tháng tư, mặc cho TP Hồ Chí Minh nắng như đổ lửa, không khí gặp mặt của cựu tù Côn Đảo lại ấm áp và vang vọng tiếng cười. Người đến từ miền Trung mưa dầm nắng lửa, người từ cao nguyên gió Lào bỏng rát, tất cả đều đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, mang trong mình nhiều thương tật của quá khứ tù đày ở “địa ngục trần gian”. Họ ôm nhau thật chặt, rưng rưng nhớ về một thời tuổi trẻ trong tù, tận hiến trái tim cho lý tưởng cách mạng.

4-3.jpg -0
Cựu tù Ung Văn Bê (thứ nhất, từ trái sang) trở lại Côn Đảo gặp gỡ các đồng đội trong tù năm xưa.

Đôi chân đã yếu, sức khỏe đã hao mòn đi nhiều, nhưng cựu tù Sầm Thanh Liêm vẫn tích cực có mặt trong các cuộc gặp anh em đồng đội cũ, ông vẫn thường xuyên trở lại Côn Đảo thăm Trại 6B, nơi ông cùng đồng đội đã viết báo, làm thơ, vẽ tranh, truyền thông tin bí mật cho cơ sở cách mạng trong các buồng giam. Cựu tù Sầm Thanh Liêm cho biết, sự ra đời của các tờ nội san báo chí gắn liền với vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Lưu Chí Hiếu, Đảng bộ cộng sản do chính những người tù cách mạng lập nên tại Trại 6B vào ngày 3/2/1972.

Ngay sau khi cơ sở Đảng đi vào hoạt động, ngoài việc chỉ đạo phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân, những đảng viên cộng sản cũng bắt đầu thành lập cơ sở Đoàn để tập hợp những thanh niên có tinh thần xung kích, làm nòng cốt trong đấu tranh. Đồng chí Sầm Thanh Liêm được chi bộ Lưu Chí Hiếu giao nhiệm vụ làm Bí thư Đoàn mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. Tổ chức Đoàn được hình thành bí mật, sau đó lan rộng, thành lập các chi đoàn trong các phòng giam để trui rèn bản lĩnh, học tập chính trị và giữ lửa cách mạng.

“Chúng tôi làm báo, sáng tác thơ, vẽ tranh... vừa làm thông tin, vừa sử dụng làm công cụ đấu tranh, động viên tinh thần, tuyên truyền các chủ trương và giáo dục lòng yêu nước cho tù nhân. Viết báo bằng bìa vỏ bao xi măng, vỏ thùng carton, giấy gói bưu kiện..., cái gì có thể viết được là chúng tôi sử dụng. Dù bị tra tấn dã man và sống trong cảnh tù đày khổ sai, những ấn phẩm báo chí vẫn đều đặn ra lò và đến tay bạn tù”, cựu tù Sầm Thanh Liêm kể. 

Giữa năm 1972, theo chỉ đạo của Đảng bộ Lưu Chí Hiếu, số báo đầu tiên của tờ Nội san Xây dựng ra đời và duy trì xuất bản định kỳ hằng tháng, phát hành 1 cuốn với 60 trang, người tù chuyền tay nhau đọc. Do đọc trong tình trạng bị gông cùm xiềng xích, tờ báo đến phòng 10 thì lấm lem bụi bẩn, nhàu nát. Từ những số sau, Ban Biên tập cố gắng xuất bản mỗi số 2 cuốn rồi tăng lên đến 6 cuốn. Nội dung, hình thức cũng ngày càng được đầu tư qua các khâu viết bản thảo, vẽ bìa, trình bày maket, vẽ minh họa... Những người có chữ viết đẹp, có năng khiếu vẽ được giao chép nhân bản số báo như: Lê Minh Sang, Châu Văn Mẫn, Hoàng Trọng Tấn, Trần Thanh Lê...

“Chúng tôi miệt mài chép, có khi quên ăn, quên ngủ. Khỏe cũng chép, mệt cũng chép, bị bệnh, ho ra máu vẫn cố gắng chép, tay chân lở lói, rỉ máu bởi những vết thương vẫn không ngừng viết, làm sao tờ báo ra mắt đúng ngày dự định”, cựu tù Côn Đảo, Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang Châu Văn Mẫn kể. 

4-1.jpg -0
Trung tướng Châu Văn Mẫn trước bia tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh trong quá trình đấu tranh tại Nhà tù Côn Đảo.

Những người làm báo trong tù đã tận dụng tối đa các loại giấy, miễn sao có thể viết được chữ. Với bìa giấy cứng đóng thùng hoặc giấy gói hàng họ đem ngâm nước tách mỏng thành nhiều tờ, đến khi không còn tách được nữa mới thôi.

“Bao thuốc lá viết được 3 mặt, tờ giấy xi-măng viết 4 mặt, một miếng thùng carton 3 lớp viết được 6 mặt. Để trang trí cho bìa và các tựa bài viết, chúng tôi tự chế mực với các loại màu sắc từ bột nghệ hoặc ngâm vài viên thuốc bọc đường màu đỏ, màu xanh dương. Chép xong, đóng tập, xén cạnh rồi mang đi phát hành cho anh em trong các buồng giam đọc”, Trung tướng Châu Văn Mẫn nhớ lại một thời gian khó làm người viết báo trong tù.

Cuộc chiến đấu trong nhà tù mang tính sống còn và luôn biến động. Không một ai có thể hình dung ngày mai của chính mình, bởi cái chết luôn rình rập cận kề. Không ai nghĩ đến việc những tờ báo mình làm ra sẽ được lưu giữ trong bao lâu và mai sau, lịch sử sẽ đánh giá thế nào. Những người tù, họ chỉ có một lý tưởng duy nhất là đấu tranh đòi tự do cho dân tộc, đòi hòa bình cho Tổ quốc. 

4-2.jpg -0
Cổng Di tích Nhà tù Côn Đảo.

Tiếng đài trong “chuồng cọp”

Ngoài viết báo, trong “chuồng cọp” Côn Đảo, lực lượng tù chính trị còn có đài radio để bí mật nghe tin tức chiến sự cũng như tình hình trong nước và thế giới về cuộc chiến tranh Việt Nam. Cuối năm 1971, trước sự đấu tranh quyết liệt của các chiến sĩ cách mạng tại nhà tù Côn Đảo, địch buộc phải đưa một số tù chính trị bệnh nặng về đất liền chữa trị, trong số này có ông Phạm Văn Ba (sau này là Trưởng Ban liên lạc tù chính trị Côn Đảo TP Đà Nẵng).

Khi quay lại Côn Đảo vào tháng 12/1972, ông Phạm Văn Ba nhận được 2 chiếc radio. Chiếc radio 3 băng tần, do 2 người Pháp bị bắt vì treo cờ Giải phóng lên trước trụ sở Hạ viện Việt Nam Cộng hòa là Jean Pierre Debris và Andre Menras tặng. Chiếc radio 1 băng tần do chiến sĩ Giải phóng Phạm Sĩ Công tặng.

Ra tới Côn Đảo, ông Phạm Văn Ba và đồng đội đưa trót lọt 2 chiếc radio vào Trại 2 rồi sang Trại 6B, nơi giam giữ tù chính trị. Nhờ có radio, những người tù cách mạng ở Côn Đảo nắm được nội dung Hiệp định Paris ngay từ cuối tháng 1/1973 và cương quyết đấu tranh buộc kẻ địch phải thi hành nghiêm chỉnh hiệp định.

Tuy nhiên, chiếc radio cũng đặt ra một loạt vấn đề, từ nơi cất giấu, người sử dụng, chế độ thông tin, bảo vệ, chế độ hoạt động, pin... “Chiếc radio 1 băng tần để ở phòng 7, nhưng ít lâu sau bị trục trặc, phải hủy. Chiếc radio 3 băng tần được đưa về phòng 6 rồi chuyển sang phòng 2. Lúc này, Đảng ủy Trại 6B quyết định chuyển ông Bùi Văn Toản, người am hiểu sâu sắc về thông tin kỹ thuật số (sau này là tiến sĩ sử học) từ phòng 8 sang phòng 2 để phát huy tối đa hiệu quả việc khai thác thông tin qua radio”, cựu tù Ung Văn Bê (tên thật là Ung Văn Khuê) kể về diễn biến sử dụng thông tin liên lạc trong nhà tù.

Ở phòng mới, ông Bùi Văn Toản cùng ông Ung Văn Bê khoét tường làm hầm cất giấu radio. Nắp hầm được ngụy trang bằng nước cháo loãng, thuốc tím hòa cùng thuốc đỏ trộn vào, che thêm thùng carton đựng quần áo để đảm bảo “tài sản quý” không bị phát hiện.

Hằng đêm, ông Bùi Văn Toản giả vờ mắc màn ngủ nhưng thực chất là lấy radio ra nghe qua dây encouter để theo dõi tin tức trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng và các đài nước ngoài rồi ghi chép lại. Ông Ung Văn Bê làm nhiệm vụ cảnh giới.

“Anh Toản rất tập trung nghe và ghi chép thật kỹ nội dung các bài bình luận, xã luận, thông tin về ý đồ chiến lược của địch cũng như thông tin về các trận đánh, bản tin chiến sự. Đây là cơ sở để lãnh đạo trại đề ra phương hướng đấu tranh hưởng ứng phong trào ngoài đời và tổ chức cho anh em học tập”, Ông Ung Văn Bê nói.

Các tin tức khai thác được qua radio được báo cáo cấp trên rồi phổ biến tới các phòng trong điều kiện bí mật tuyệt đối. Đồng chí Châu Văn Mẫn ngoài việc làm báo, còn có thêm nhiệm vụ chép lại các bản tin.

“Mỗi tài liệu, bản tin, tôi phải sao chép 11 bản, trừ tin của đài nước ngoài chỉ sao 1 bản. Chỉ có lãnh đạo các phòng mới được tiếp cận bản tin chép lại. Sau đó, các thành viên trong phòng được phổ biến thông tin trong các buổi sinh hoạt qua hình thức truyền miệng”, Trung tướng Châu Văn Mẫn nhớ lại.

Chiếc radio giúp các tù chính trị Côn Đảo không còn bị lạc hậu với tình hình thời sự bên ngoài và tốn công sức xác minh thông tin như trước. Phong trào làm báo trong trại giam cũng có bước phát triển vượt bậc, với những tờ báo như Xây dựng, Sinh hoạt, Vươn lên...

Năm 1974, cai ngục nghi ngờ nên đã tăng cường kiểm tra, lục soát, chiếc radio có nguy cơ bị lộ. Ông Bùi Văn Toản và ông Ung Văn Bê phải tìm kiếm địa điểm mới để cất giấu.

“Sau nhiều ngày quan sát và nghiên cứu, tôi và anh Toản nhận thấy chỉ có khu vực cầu tiêu là khả thi. Các viên gạch ở đây được xây sơ sài, có thể dễ dàng rút ra. Cái khó là chiếc radio lớn hơn lỗ cầu tiêu nên chúng tôi mất mấy ngày để đục lỗ, cơi nới cho vừa với chiếc đài. Khi đã có nơi cất giấu an toàn, tôi là người chịu trách nhiệm canh giữ và bảo vệ”, ông Ung Văn Bê kể.

4-4.jpg -0
Những trang Nội san Xây dựng do Ban tuyên huấn Đảng ủy Trại 6B phát hành.

Được một thời gian, địch nghi ngờ tù nhân có radio, chúng bắt người nghi vấn tra khảo nhưng không khai thác được thông tin gì. Trước tình cảnh ngặt nghèo, đội “đài” đã phải đem radio ra chôn giấu bên ngoài phòng giam. Một thời gian sau, tình hình lắng xuống, chiếc radio được đào lên mang về buồng và thông tin được nối lại.

Đêm 19/1/1975, ông Toản nghe được tin quân ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long nhưng chưa kịp phổ biến thì sáng 20/1 địch tiến hành chuyển toàn bộ tù chính trị Trại 6B sang nhốt ở xà lim Trại 7. Vì chuyển trại đột ngột nên ông Ung Văn Bê không kịp mang theo radio vẫn đang nằm dưới cầu tiêu phòng 2, Trại 6B.

“Thời điểm này, các nguồn tin về giải phóng Sài Gòn đã ảnh hưởng tới tinh thần của lính canh. Chúng tôi nhận thấy thái độ khác thường của chúng nên đoán biết được tình hình. Đến tối 30/4, rạng sáng 1/5, chúng tôi chính thức nhận tin Sài Gòn đã được giải phóng. Các tù nhân ở buồng giam hô hào, phá xiềng xích, tháo gông cùm đồng loạt vùng lên, cùng lực lượng yêu nước bên ngoài giải phóng Côn Đảo”, cựu tù Ung Văn Bê kể, đôi mắt ngấn lệ vì xúc động khi nhớ đến những đồng đội năm xưa, giờ chỉ còn vài người trong ngày hội ngộ.

Ngày 4/5/1975, quân Giải phóng tiếp quản Côn Đảo. Ủy ban Quân quản được thành lập, lực lượng tù chính trị giải phóng được tổ chức thành “Đoàn chiến sĩ chiến thắng”. Trong số những cựu tù Côn Đảo, 157 người đã tình nguyện ở lại. Đây chính là lực lượng nòng cốt để xây dựng chính quyền Côn Đảo trong những ngày đầu giải phóng.

Những người tù khác lần lượt lên các chuyến tàu trở về đất liền. Ông Ung Văn Bê, Sầm Thanh Liêm, Bùi Văn Toản cùng gần 200 cựu tù Côn Đảo đã lên tàu trở về nhà. Sau hải trình 3 ngày 2 đêm đầy sóng gió, tàu cập cảng Bạch Đằng. “Chúng tôi nhìn thấy đất liền, ánh bình minh ló dạng trên mặt biển đẹp rực rỡ, hạnh phúc không sao tả xiết, chúng tôi lặng người đi, nước mắt tuôn trào. Niềm vui được tự do, như đóa hướng dương bừng nở trong tim mỗi người tù đã xa cách quê hương và gia đình suốt nhiều năm đằng đẵng”, cựu tù Ung Văn Bê rưng rưng nhớ khoảnh khắc trở về nhà cách đây hơn nửa thế kỷ. 

Ngọc Thiện
.
.
.