Về cái chết của cháu bé tại viện nhi trung ương

Thứ Năm, 06/11/2008, 16:30
Cái chết của cháu Nguyễn Nhật Nam, 3 tuổi, ở số nhà 25, ngách 141 ngõ Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội đã một tuần mà đối với bố mẹ cháu là anh Nguyễn Tuấn Anh và chị Trương Thị Vân Anh cùng ông bà nội, ngoại nỗi đau này không thể tin nổi. Họ quá “sốc”!

Cách đây một tuần, tiếng cười giòn rã và tiếng gọi bi bô của trẻ nhỏ còn rộn rã vậy mà bây giờ chỉ còn ảm đạm bầu không khí  tang tóc... Căn bệnh tràn dịch màng phổi đã cướp đi tuổi thơ, sự sống của cháu. Nhưng với căn bệnh quái ác này, ngay những ngày đầu ở Bệnh viện Nhi Trung ương, giá như các bác sĩ không tiên liệu thiếu chính xác và không đưa ra phác đồ điều trị đơn giản so với bệnh tình của cháu, có thể bé Nam đã được cứu sống.

Chị Trương Thị Vân Anh, mẹ của cháu Nam, sau một hồi nghẹn ngào và khóc nức nở vì không thể kìm nén nỗi đau đã kể, rạng sáng ngày 16/10 cháu Nam sốt rất cao, nhiệt độ luôn ở mức hơn 39oC và cháu có biểu hiện khó thở. Với ý nghĩ có thể vẫn như mọi khi cháu bị viêm đường hô hấp trên hoặc viêm phế quản nên chị Vân Anh cùng chồng không đưa cháu đi viện ngay mà chỉ điều trị cho cháu bằng cách uống thuốc hạ sốt.

Anh chị dự định chờ đến khi bắt đầu ngày làm việc mới, mới đưa cháu đi khám ở Bệnh viện Nhi Trung ương để bác sĩ kê đơn thuốc đặc trị. Nhưng chưa kịp đến thời gian ấy, 6 giờ sáng, Nam đã bị co giật vì sốt quá cao. Chị Vân Anh cùng chồng vội vã bắt taxi, đưa Nam đi cấp cứu ở Bệnh viện Nhi Trung ương.  Tại đây, cháu được bác sĩ trực cấp cứu truyền dịch và làm xét nghiệm máu. Dựa trên kết quả xét nghiệm máu và khám bệnh, bác sĩ trực kết luận: Nam bị sốt virus và giảm bạch cầu. Bác sĩ chỉ định sau khi truyền dịch xong, nếu hạ sốt, Nam sẽ về mà không phải nằm viện để tiếp tục theo dõi.

Sau ca trực ấy, bác sĩ  Hà Thị Thanh Vân là người tiếp quản điều trị. Khi khám bệnh cho Nam, bác sĩ Vân lại có kết luận khác hẳn so với ban đầu: “Viêm miệng lợi - Sốt cao, hen phế quản”. Bác sĩ Vân còn kê 3 loại thuốc để điều trị cho Nam và kèm theo chỉ định: “Nếu trẻ sốt cao, không hạ, có giật phải khám lại ngay”. Hoặc: “Sau 3 ngày không đỡ khám lại”. Trước khi về bác sĩ Vân còn chỉ định tiêm một mũi thuốc và khí dung cho Nam vì cháu có biểu hiện khó thở. Nội dung này hiện trong sổ y bạ của cháu Nam vẫn còn lưu.

Ra viện buổi chiều thì đến đêm Nam lại sốt cao và khó thở. Cháu uống thuốc hạ sốt lbrafen do bác sĩ Thanh Vân kê nhưng không mấy hiệu quả. Lo ngại bị co giật như sáng hôm trước, chị Vân Anh lại tức tốc bế con đi cấp cứu ở Bệnh viện Nhi Trung ương vào 6h sáng ngày 17/10.

Lần này tiếp nhận và khám cấp cứu cho Nam là bác sĩ Trần Văn Quang. Mặc dù cũng chung kết luận như bác sĩ Vân về bệnh tình của Nam nhưng bác sĩ Quang không duy trì đơn thuốc điều trị của bác sĩ Vân mà chuyển sang một đơn thuốc hoàn toàn  mới. Đồng thời bác sĩ Quang chỉ định truyền một chai dịch để Nam hạ sốt.

11h30’ cùng ngày, khi đã truyền dịch xong, Nam hạ sốt. Bác sĩ Quang lại quyết định cho cháu xuất viện, dù đây là ngày thứ 2 liên tiếp, cháu phải đi cấp cứu. Về đến  nhà chưa được một lúc, Nam lại tái sốt và khó thở. Chị Vân Anh kể lại: “Lúc đó cháu thở dốc ra ngoài và thở rất khó khăn đến nỗi người tím tái. Để cháu dễ thở hơn, tôi phải bế dựng cháu lên và vỗ nhè nhẹ vào lưng”. Tuy nhiên, với những biện pháp không phải của người có chuyên môn cháu ngày càng vật vã hơn. Hốt hoảng, vợ chồng chị Vân Anh lại bế con tất tả trở lại bệnh viện.

Bác sĩ đã tiên liệu sai bệnh của cháu Nam.

Có thể lần cấp cứu này tiên lượng được bệnh của Nam, vì vậy cháu được điều trị tích cực như thở ôxy liên tục, khí dung 2 lần. Cháu còn được đưa đi chụp phổi và hình ảnh chụp phổi cho thấy cháu bị tràn dịch màng phổi và phải hút dịch từ phổi ra. Vậy mà mấy tiếng sau chỉ định ấy mới được thực hiện. Và để được hút dịch từ phổi, thực tế vợ chồng anh Tuấn Anh cũng phải tự đôn đáo đi tìm bác sĩ.

Anh Tuấn Anh kể lại giọng đầy bức xúc: “Chờ mãi mà không thấy bác sĩ nào hút dịch cho cháu, sốt ruột, tôi mới hỏi một bác sĩ thì nhận được câu trả lời: phải chờ bác sĩ khoa ngoại”. Thậm chí, bác sĩ này còn mắng tôi: “Đó là việc của chúng tôi. Anh không có quyền hỏi hay can thiệp vào”.

Không thể chấp nhận thái độ làm việc quá bình thản của bác sĩ trực trong khi con anh có biểu hiện ngày một trầm trọng hơn: cứ dừng thở ôxy thì cháu lại tím tái, anh Tuấn Anh lập tức đi tìm bác sĩ ngoại khoa trực đêm đó. Sau khi xem phim chụp phổi của cháu, bác sĩ ngoại khoa hốt hoảng nói: “Tại sao cháu tràn dịch nhiều thế này mà lại chưa hút”. Và ngay tại giường cháu nằm cấp cứu, bác sĩ ấy đã rút từ phổi của Nam khoảng 300ml dịch. Hút xong, Nam tỉnh táo và chơi ngay. Cháu đòi uống nước, chơi đồ chơi...

Nhưng để khẳng định đã hết dịch chưa thì theo hướng dẫn của bác sĩ, anh Tuấn Anh phải cho cháu đi chụp phim lần nữa vào sáng hôm sau. Với hình ảnh chụp phim mới lần 2, bác sĩ vẫn kết luận cháu còn nhiều dịch trong phổi, phải hút tiếp. Trong khi chờ đợi để hút dịch tiếp từ phổi, một bác sĩ chỉ định cho Nam tiêm “kháng sinh toàn thân”. Chị Vân Anh nói: “Em nghe rõ bác sĩ nói điều này. Bởi lúc ấy, cứ bác sĩ nào nói về trường hợp của con em là em cố gắng nghe thật rõ”.

Và đến 8h30' một y tá đến tiêm thuốc cho cháu Nam. Trước khi tiêm, theo thông thường bao giờ bác sĩ cũng thử phản ứng thuốc nhất là thuốc kháng sinh cho bệnh nhân. Nhưng, chị Vân Anh kể lại, cô y tá tiêm cho cháu không thực hiện việc này mà chỉ tiêm thuốc và tiêm cực kỳ nhanh cho cháu. Tiêm đến mũi thứ hai, được nửa xơranh thuốc, cháu Nam bắt đầu tím tái người, chân tay cứng đờ, mắt nhắm nghiền và tè dầm như không thể kiểm soát được.

Kể đến đây, chị Vân Anh khóc nấc lên không kể được nữa. Anh Tuấn Anh phải tiếp lời: “Từ lúc đó trở đi, cháu Nam không còn biết gì nữa. Và chúng tôi mất cháu từ đấy”.

Kết luận sơ bộ của Bệnh Viện Nhi Trung ương về cái chết của cháu Nguyễn Nhật Nam, theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Giám đốc bệnh viện thì “Cháu Nam bị viêm mủ màng phổi, tràn mủ màng phổi. Và tử vong do sốc thuốc”. Nếu theo kết luận này, rõ ràng, trong 3 ngày cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đặc biệt là 2 ngày đầu, các bác sĩ đã không tiên liệu chính xác bệnh tình của cháu Nam. Và do không tiên liệu chính xác nên các bác sĩ đã đưa ra phác đồ điều trị không phù hợp với bệnh tình của cháu.

Sau khi xem lại sổ y bạ của Nam do chúng tôi cung cấp, ông Liêm cũng thừa nhận điều này. Và để giải thích nguyên nhân tại sao có sự tiên liệu sai như vậy, ông Liêm nói: “Do trình độ của bác sĩ”. Tuy nhiên, bên cạnh nhận định “do trình độ” của ông Liêm, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm ở đây cần phải nói đến trách nhiệm của các bác sĩ khi khám cấp cứu cho cháu Nam.

Thứ nhất, khi thấy cháu có biểu hiện khó thở, nghiêm trọng hơn nữa biết cháu từng có tiền sử bệnh tràn dịch màng phổi do bố cháu trình bày khi đưa cháu đến cấp cứu, tại sao các bác sĩ không cho cháu đi chụp phổi mà lại quyết định cho cháu về nhà điều trị trong 2 ngày cấp cứu liên tiếp.

Thứ hai, khi tiêm thuốc, tại sao người tiêm không thử phản ứng thuốc, nhất là trong tình trạng thể trạng của cháu Nam yếu như vậy mà lại tiêm ngay? Giải thích sự việc đó, bác sĩ Liêm cho rằng vì bệnh viện đông bệnh nhân, khoảng 3.000 bệnh nhân mỗi ngày nên việc quyết định cho cháu về nhà điều trị là để giảm tải đồng thời cũng là để đỡ khổ cho người nhà bệnh nhân trong việc chăm sóc.

Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, dù bệnh viện quá tải tới mức nào, trong trường hợp cần thiết phải giữ bệnh nhân ở lại thì đó vẫn là việc phải làm của các bác sĩ, và đó là trách nhiệm của bác sĩ. Vì ở bệnh viện với trang thiết bị y tế đầy đủ, có người làm chuyên môn thì chắc chắn người bệnh sẽ được theo dõi tốt hơn ở nhà.

Từ trường hợp của cháu Nam, đối với các bác sĩ ở Viện Nhi Trung ương, cũng như với toàn ngành y tế không chỉ là bài học về chuyên môn mà còn cả về trách nhiệm của thầy thuốc. Bởi nắm trong tay số mệnh của người bệnh, nếu chỉ thiếu một trong hai yếu tố ấy, bác sĩ có thể gây ra hậu quả khôn lường, cụ thể: mạng người có thể ra đi trong chớp mắt. Cho nên nghề y như người ta vẫn nói phải không ngừng học hỏi và trách nhiệm luôn được đề cao, dù làm việc căng thẳng đến mấy. Và không thể nào khác được...

Tú Anh
.
.
.