Người vợ kế chăm sóc chồng mù và nuôi con học đại học
Chị Phan Thị Thúy ở thị trấn Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã vượt lên bao khó khăn về cuộc sống nhà chồng, xây dựng nên một gia đình hạnh phúc.
Mới 7h sáng, chúng tôi đến nhà, đúng lúc chị Thúy chở anh Toa, chồng chị lên trụ sở Hội Người mù của huyện vừa về. Chị chuẩn bị ra chợ làm nghề giữ xe.
Thấy có khách lạ, chị gác lại công việc hàng ngày. Bên ấm nước chè xanh, chị Thúy nói: "Ui chao! Chừ kể mần chi chuyện ôn nghèo kể khổ, nó đã qua rồi".
Năm 1994, khi vừa tròn 26 tuổi, chị Thúy - một người con gái giỏi giang ở vùng Hải Thượng (Hải Lăng, Quảng Trị), dù được nhiều chàng trai trong làng để ý, nhưng vẫn quyết về làm vợ kế anh Trần Đình Toa, 39 tuổi - thương binh hạng 1, mù hai mắt, có hai đứa con nhỏ dại.
“Ngày đó dư luận xôn xao, ai cũng can tui, đời con gái không nên rước họa vào thân! Xóm làng bàn tán xì xào nên nhiều đêm gác tay lên trán tui đấu tranh tư tưởng ghê gớm lắm. Nhưng thấy gia cảnh anh Toa gà trống mù nuôi con dại, tự nhiên trong lòng thổn thức... Hình ảnh hai đứa bé cứ lởn vởn mãi trong đầu. Tui quyết vượt qua mọi trở ngại để trở thành vợ anh Toa, làm mẹ kế của hai cháu nhỏ”.
Khi hay tin anh Toa sẽ đi thêm bước nữa, hai đứa con của anh, Trần Thị Hương (lớp 5), Trần Đình (lớp 1) tìm mọi cách ngăn cản.
“Nhiều đêm chúng nói rằng, con sẽ không đi học nữa để ở nhà chăm nuôi ba. Có khổ cực đến mấy chúng con sẽ gánh vác, chứ không bao giờ chấp nhận thêm một người phụ nữ nữa trong nhà. Sau hai năm thuyết phục hai đứa con không có kết quả, tui mất hết kiên nhẫn, suốt ngày mượn rượu làm bạn, rồi đi lang thang. Nhiều hôm túng quẫn, tui muốn tìm đến cái chết. Nhưng nghĩ lại sau lưng mình là hai đứa con thơ nên không đủ can đảm. Tui đi vật vờ ngoài đường, có lúc xe tải phanh cháy đường để không cán vào tôi, khi tỉnh dậy nghe hàng xóm nói mới hay!” - anh Toa nhớ lại.
Ngày bước chân về làm vợ kế anh Toa, cũng là lúc chị Thúy phải đối mặt với những khó khăn; khoản nợ gần 5 triệu đồng chữa bệnh và lo lễ tang cho người vợ trước của anh để lại. Nhưng cái khó nhất đối với chị là hai đứa con chồng luôn tỏ thái độ không thừa nhận. “Tui nói một đường, hắn làm một nẻo, học hành bỏ bê”.
Trước thực tế nghiệt ngã ấy, chị Thúy tìm cách chinh phục hai đứa trẻ bằng tình thương và trách nhiệm với những việc làm cụ thể hàng ngày.
“Nhiều lúc tui tâm sự với hai đứa con chồng: hoàn cảnh của ba con không thể không lấy vợ. Mẹ là phận gái mà chấp nhận làm vợ kế cho ba con là quá thiệt thòi, nhưng vì các con mà mẹ đã chấp nhận. Nếu một mai các con ốm đau vào bệnh viện thì ai chăm sóc? Ba con ư! Không thể. Bà con ruột thịt cũng chỉ được vài ngày. Nên chỉ có mẹ mà thôi... Thuyết phục mãi gần nửa năm trời tui mới cảm hóa được chúng”.
Để trả khoản nợ cho chồng và nuôi con ăn học, chị Thúy tổ chức lại cuộc sống gia đình. Chị xin hợp tác xã làm một mẫu ruộng, nhưng thu nhập hàng năm vẫn không đủ ăn. Chị chạy về nhà ngoại xin làm thêm mấy sào ruộng nước nữa, trong làng hễ ai không làm ruộng chị xin nhận làm thay.
Mỗi ngày chị thức dậy từ 3h sáng lo bữa ăn sáng cho chồng, con, nấu nước chè cho Hội Người mù của huyện (lúc ấy Hội Người mù của huyện Hải Lăng đang mượn tạm nhà anh Toa làm trụ sở), 6h đạp xe chở hai con đến trường, ghé về chợ Diên Sanh làm nghề giữ xe để tăng thêm thu nhập, đến 11h đến trường đón con. Cơm nước qua loa đến 1h chiều, chị vác cuốc ra đồng, hoặc lên đồi kiếm củi. Công việc cứ thế được chị Thúy lập trình đến nỗi mỗi lần có “sự cố ốm đau chi” là làm đảo lộn mọi sinh hoạt gia đình.
“Nhiều hôm đi làm đồng về bụng dạ cồn cào, nhưng nhìn nồi cơm lưng lẻo, tui giả bộ ra ngoài đuổi gà, nạt lợn để cho mấy cha con ấm bụng... Hay những lúc trong túi có tiền nhưng không dám mua bộ đồ mới, nhỡ các con cần mua sách vở, nộp tiền trường thì lấy mô ra”.
Khi hai đứa con chồng lớn khôn, chị Thúy phân công, đứa lớn buổi đi học, buổi giúp mẹ việc nhà, đứa nhỏ trông em để chị rảnh rang làm thêm nghề buôn bán rau quả.
Sau gần 5 năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, chị Thúy trả xong nợ và từ đó gia đình bắt đầu có của để dành. Dù vất vả nhưng hai đứa con chồng chăm học, chăm làm.--PageBreak--
Niềm vui rồi cũng được đền đáp, đó là năm 2001 Trần Thị Hương thi đỗ vào Khoa Luật - Đại học Đà Lạt. “Nghe tin con trúng tuyển vào đại học, suốt đêm tui mừng đến rơi nước mắt. Hai mẹ con thao thức, trông trời mau sáng để đạp xe lên Phòng Giáo dục huyện nhận giấy báo trúng tuyển đại học cho con”. Con gái vào đại học, khó khăn lại chồng chất, nhưng chị vẫn gắng vượt qua.
Cuộc sống gia đình đang ấm êm, bỗng đầu năm 2002, đứa con thứ hai một lần nghe theo đám bạn rủ rê đã sa vào con đường hư hỏng. Suốt ngày bỏ học, tụ tập đi lang thang, thậm chí tham gia trộm cắp vặt, bị Công an triệu tập nhắc nhở, răn đe. Học hành sa sút, vi phạm nội quy nên năm lớp 8 cháu bị ở lại lớp.
Nhận được “hung tin”, chị Thúy giấu kín chồng kẻo sợ anh Toa bức xúc bệnh tật tái phát, ảnh hưởng đến sức khỏe. Chị đến Công an tìm hiểu nguyên nhân, đến nhà trường nhờ thầy cô giúp đỡ, nhờ cán bộ Hội phụ nữ cảm hóa.
“Ngày làm lụng vất vả, đêm đến muốn lên giường ngả lưng cho khỏe, nhưng vẫn ráng dậy ngồi bên con cả tiếng đồng hồ để động viên con học. Rằng, đừng bi quan và mặc cảm, tương lai con đang còn phía trước, hãy gắng lên để vượt qua, bên cạnh con luôn có mẹ chở che”.
Từ tình thương và trách nhiệm ấy chị Thúy thêm lần nữa cảm hóa được đứa con chồng trở nên tiến bộ và trở lại học đường.
Khổ cực rồi cũng trôi qua, con gái đầu Trần Thị Hương vừa tốt nghiệp đại học nay đã có việc làm ổn định tại tỉnh Đắk Nông, còn Trần Đình đang học lớp 12, đứa con gái chung của anh chị năm nay cũng vào lớp 5 - học sinh giỏi của thị trấn. Dù bao năm vất vả nhưng chị Thúy vẫn dành dụm được 50 triệu đồng để xây ngôi nhà mới khang trang.
“Nếu không có mẹ Thúy đến kịp thời chắc mấy cha con em không có được ngày hôm nay. Tấm lòng bao dung của mẹ đã vực dậy cuộc sống gia đình. Điều quan trọng hơn là đã mở ra cho chúng em nhiều con đường phía trước. Em sẽ quyết tâm vươn lên để khỏi phụ lòng mẹ”, Đình tâm sự
