Người đàn bà và đám cưới sau song sắt

Thứ Ba, 01/09/2009, 09:15
Mới 4h30' sáng, chuyến xe đêm đi từ TP HCM đã về đến  Đà Lạt. Mùa hè nhưng thành phố của hoa vẫn se se lạnh. Cửa nhà số 39 phố Đào Duy Từ vẫn im ỉm khép. Không muốn đường đột gõ cửa khi chưa sáng hẳn, tôi gọi một ly cà phê ở cái quán nhỏ xíu bày ngay cạnh sân nhà ngồi chờ. Nửa tiếng sau, người đàn bà xuất hiện...

Nhỏ, gầy guộc, cả người bọc kín trong áo len, mũ len và găng tay len. Chỉ tấm khăn quàng cổ là bằng voan mỏng, nhẹ như sợi khói và như chính bước đi của chủ nhân. Bà vừa tản bộ từ đâu đó về, không phải vừa bước ra từ cửa.  Trước khi tôi kịp nhận ra, bà đã lên tiếng: “Vâng, tôi là Cao Thị Quế Hương. Cậu là...?”. Len qua  cánh cửa chỉ khép mà không khóa để vào nhà, tôi hiểu, bà đã dậy từ rất sớm, sớm hơn nhiều so với chuyến xe về bến sớm nhất. Và đã ngồi chờ, từ lâu lắm. Dường như chờ đợi là thói quen, là thiên chức, là cuộc sống của chính bà...

Tên bà đã  xuất hiện nhiều lần trong những cuốn sách viết về phong trào đấu tranh của Thành đoàn, của sinh viên – học sinh Sài Gòn thời đánh Mỹ. Bà cũng là một nhân chứng sống, nổi bật trong những tư liệu phơi bày tội ác của chế độ lao tù. Tôi không thể hình dung nổi người phụ nữ gầy guộc đang lọt thỏm trong chiếc ghế trước mặt mình lấy đâu ra sức lực để vượt qua tất cả và trở về từ những chốn tối tăm và tàn bạo ấy. Bà cười: “Thời chúng tôi, những người có tấm lòng với nước đều trải qua vậy cả. Tình yêu của chúng tôi  lớn lên trong chốn lao tù. Tên thật của anh ấy là Phượng, nhưng được nhắc đến nhiều bằng tên Nguyễn Ngọc Phương”.

Gần trọn buổi sáng, hồi ức của bà hầu như chỉ giành trọn cho liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương. Những tấm ảnh đen trắng, những mảnh báo ố màu được cắt ra từ trên dưới 40 năm trước càng khiến câu chuyện về một thời  thêm sống động.

Nếu trời yên bể lặng, hẳn là bà Cao Thị Quế Hương đã an phận làm một cô giáo Việt văn hoặc Triết học cho đến tận lúc về hưu. Cha là một ông Phán dây thép gốc Bình Định, mẹ của bà Quế Hương là con nhà nề nếp xứ Huế thần kinh, gia đình bà tuy không thế gia vọng tộc nhưng cũng đủ để nuôi con cái học hành đến nơi đến chốn.

Có lẽ cả chất Huế quê mẹ thâm trầm lẫn chất Đà Lạt nơi định cư nhiều mơ mộng đã lẫn vào nhau và hình thành nên niềm say mê ưu tư, trầm tưởng ở cô gái Quế Hương. Hết tú tài, chị thi đậu vào Ban Triết, Khoa Sư phạm của Viện Đại học Đà Lạt. Sau đảo chính Ngô Đình Diệm tháng 11/1963, Viện Đại học Đà Lạt không còn Ban Triết học, chị phải chuyển về Sài Gòn học tiếp chuyên ngành đồng thời ghi danh học thêm Đại học Văn khoa. Và lịch sử đã không diễn ra như chữ “nếu”.

Sinh viên không chấp nhận nổi chuyện đến trường trên quê hương mình mà lối nào cũng bị chắn ngang, giăng kín bởi lô cốt, hàng rào dây kẽm gai, ụ bao cát và nhan nhản những họng súng nghi kị. Đi qua những góc phố, nghe hơi nóng của máy điều hòa nhiệt độ trong những căn cư xá cho lính Mỹ thuê phả ra, họ cũng không chịu nổi. Là thiếu nữ, Quế Hương càng khó chịu hơn khi thường xuyên nhìn thấy những gã lính Mỹ lông lá, to kềnh càng công nhiên ôm eo những cô gái Việt nhỏ thó, váy ngắn, áo hở rốn đi nghễu nghện ngoài đường. Vậy là xuống đường, mục tiêu là chống chiến tranh, đòi hòa bình cho xứ sở và phản đối sự có mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam.

Nguyễn Ngọc Phương (thứ 2 từ trái sang) được đồng đội dìu ra toà án Mỹ - Nguỵ, ngày 20/4/1970).

Ban đầu Quế Hương và nhiều người khác rất thích phong trào hướng đạo sinh. Nhưng chủ trương phi chính trị của phong trào này nhanh chóng trở nên lạc lõng với thời cuộc, có phần phù phiếm và cầu an so với đời sống cần lao luôn sục sôi cho nên sở thích của sinh viên cũng chuyển hướng, ngả về phía Cách mạng và phong trào tranh đấu.

Mùa hè năm 1966, chị tham gia Hội thảo do Tổng hội Sinh viên Sài Gòn tổ chức tại Đại học Y, đăng đàn diễn thuyết. Khi  sinh viên đang vỗ tay rào rào tán thưởng những bài diễn thuyết về tự trị đại học của các sinh viên Trần Triệu Luật, Trần Thiện Tứ, Nguyễn Hữu Thái... thì cảnh sát dã chiến ập vào. Đó là lần đầu tiên Quế Hương bị bắt nhưng chỉ bị nhốt một ngày thì được thả. Riêng những sinh viên chủ chốt của phong trào thì bị nhốt thêm mấy tháng. Chính thời điểm đó, nhận thức của Quế Hương đã thay đổi hoàn toàn. Chủ nghĩa dấn thân đã đưa chị trở thành một trong những thành viên tích cực nhất của phong trào sinh viên học sinh do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức.

Sau đợt 1 cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968, chị bị lộ, được đường dây giao liên của Thành đoàn tổ chức cho thoát ly. Trong cuộc hẹn móc nối đầu tiên, qua sự giới thiệu của anh Dương Văn Đầy, chị được gặp gỡ với Ba Triết, một thủ lĩnh của phong trào. Đang là một cô giáo dạy Triết học ở Trường Đoàn Thị Điểm Cần Thơ, ngồi nghe “với một thái độ hoàn toàn tỉnh táo”, Cao Thị Quế Hương vẫn “như bị thôi miên” khi Ba Triết phân tích về tình hình đất nước, tình hình thế giới, về tương quan giữa lực lượng của Mỹ – Thiệu và Mặt trận Giải phóng. Anh nói thông suốt, say sưa, giọng chân thành, cái nhìn sắc bén và đầy nhiệt huyết. Quế Hương đi từ ngạc nhiên đến say mê và khâm phục khi biết rằng so về bằng cấp, “diễn giả” chưa bằng cô. Anh đã học Triết học Đông Phương  và Tâm lý học ở Đại học Văn khoa  nhiều năm nhưng chưa bao giờ vượt qua... năm thứ nhất!

Thật ra Ba Triết, tên thường gọi của Nguyễn Ngọc Phương học rất giỏi. Nhưng theo yêu cầu của tổ chức, năm nào anh cũng phải “tự đánh rớt” trong các kỳ thi để có cơ hội... học lại, đón đầu dìu dắt những thế hệ sinh viên mới vào đại học đến với phong trào tranh đấu.

Năm 1950, mới 13 tuổi, trong những ngày bán báo dạo, anh đã chứng kiến cuộc đấu tranh chống Pháp, đuổi tàu chiến Mỹ của nhân dân Sài Gòn. Tận mắt, anh đã nhìn thấy cảnh học sinh Trần Văn Ơn ngã xuống. Vậy là anh gom tiền bán báo, trốn gia đình đi theo Cách mạng, được đưa đi học tại Trường Thiếu sinh quân Bạc Liêu.

Đang chuẩn bị lên tàu tập kết ra Bắc, Nguyễn Ngọc Phương nhận được lệnh quay lại Sài Gòn, trở thành một hạt nhân trong phong trào đấu tranh công khai ở đô thị... Bị địch bắt, trong 5 năm 1958 -1963, Nguyễn Ngọc Phương đã bị đọa đày qua hàng loạt lao tù ở miền Nam như Tổng nha Cảnh sát, Gia Định, Phú Lợi, Hàm Tân... Bị tra tấn dã man, nhưng ở lao tù nào, anh cũng là người đi tiên phong và hiên ngang đấu tranh. Dùng vũ lực không ngăn nổi cuộc tuyệt  thực của Phương và các đồng chí khác ở nhà tù Phú Lợi, địch thay đổi chiến thuật.--PageBreak--

Ngày quốc khánh của chế độ, thay vì cơm hẩm, cá mục, chúng đặt bánh hỏi, thịt heo, dọn mâm sạch sẽ bưng vào tận buồng giam. Năn nỉ mãi không được, những tên lính gác ngục, trước đó vốn tàn bạo cứng rắn với tù nhân đã phải... quỳ trước mặt Phương xin anh “nói với mấy... ông tù ăn giùm” để chúng khỏi bị thượng cấp quở phạt. Phương đã dõng dạc: “Nếu sợ, các anh có thể tự mình ăn, hoặc đem đi đổ. Chúng tôi sẽ không bao giờ đụng đến thức ăn, nếu tất cả các yêu sách hợp lý chưa được giải quyết đầy đủ”.

Chế độ Diệm sụp đổ (11/1963), nhờ gia đình chạy chọt, Nguyễn Ngọc Phương mới được thả nhưng với một tấm thân tàn tạ: liệt một chân, mắt mờ và lao phổi nặng. Chữa bệnh một thời gian, anh ghi danh vào học Đại học Văn khoa, sử dụng chiến thuật “lưu ban, năm nào cũng là năm thứ I” để tiếp tục tranh đấu. Từ năm 1964 đến năm 1970, anh là Ủy viên thường vụ Thành đoàn, trực tiếp chỉ đạo phong trào sinh viên và Tổng hội Sinh viên Sài Gòn.

Sau buổi làm quen, Cao Thị Quế Hương được phân công trở thành một người liên lạc của Nguyễn Ngọc Phương. Anh trở thành một người thầy, người anh lớn, người bạn thân thiết của chị. Càng ngày, chị càng tìm thấy ở anh nhiều nét cao quý. Mê mải với phong trào tranh đấu, nhưng là con trai cả, gánh nặng gia đình vẫn chưa bao giờ thôi đè nặng Nguyễn Ngọc Phương. Anh vẫn phải nuôi gà, bán báo, dạy học ở trường tư thục, dạy kèm... để cùng cha mẹ nuôi 11 người em kế sau anh. (Trong số này có chị Nguyễn Ngọc Thu Thủy, em thứ 10, hiện là vợ của NSƯT Bảo Quốc danh tiếng).

Tình yêu đến với chị lúc nào không biết. Trong trái tim anh, chị cũng trở thành hình ảnh thân thương không thay thế được. Gia đình đôi bên cũng vun vào. Thời gian này, Phương hoạt động công khai bằng căn cước giả mang tên Nguyễn Hoàng Nhi (tên người em thứ 6 của anh). Cao Duy Tuấn, em ruột chị Hương tham gia hoạt động, sử dụng xe gắn máy của Nguyễn Hoàng Nhi, bị địch bắn gãy tay và đày ra Côn Đảo, cũng khai lý lịch mình dưới tên này. Chị Quế Hương, khi bị địch thẩm vấn thì khai mình tên là Nam Phương, nghĩa là vợ của Phương, người miền Nam.

Bà Quế Hương lần giở album ảnh về liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương.

Nhờ căn cước giả mang tên Nguyễn Hoàng Nhi, khi bị bắt vào tháng 10/1968, Nguyễn Ngọc Phương đã không bị địch phát hiện ra thân phận, chỉ bị quy tội trốn lính. Chúng đưa anh vào Trại tân binh Quang Trung, sau đó đưa xuống Bà Rịa huấn luyện hạ sĩ quan. Thương anh, tháng 1/1969, với một tấm giấy phép giả và một căn cước giả do cơ quan Thành đoàn chuẩn bị sẵn, chị Quế Hương đã bất chấp nguy hiểm tìm đến Trại huấn luyện Bà Rịa trao cho Nguyễn Ngọc Phương và đưa anh trốn thoát.

Họ đã có thời gian chia sẻ với nhau nhiều kỷ niệm, từ chạy càn, tránh bom, suýt bị địch khui hầm bắt hoặc giết ngoài căn cứ đến thoát vây, tránh bố ráp ở nội thành. Có lần, sau khi học tập tài liệu “giữ gìn khí tiết Cách mạng”, Nguyễn Ngọc Phương đã dặn dò riêng Quế Hương: “Nếu chẳng may bị bắt, em cố gắng chịu đựng mà về với anh. Dù em còn da bọc xương cũng ráng mà về với anh”.

Tổ chức chấp nhận, gia đình đôi bên đã định lễ cưới cho họ vào ngày 12/3/1970.  Nhưng địch đã nhanh tay hơn trước một tuần.  Cùng bị bắt với Phương - Hương trong đợt bố ráp ngày 7/3/1970 có cả thảy 21 cán bộ nòng cốt của Thành đoàn và phong trào sinh viên, học sinh, trong đó có những cái tên nổi tiếng  như Dương Văn Đầy, Huỳnh Tấn Mẫm, Đỗ Hữu Bút, Lê Thành Yến, Nguyễn Tấn Tài, Trần Khiêm...

Hết Ty Cảnh sát quận 1 đến Nha Cảnh sát Đô thành, địch đã dùng vô số những đòn tra tàn bạo để lung lạc nhưng đều không khuất phục được họ. Tù đông, buồng giam không đủ, cảnh sát bắt Quế Hương và một số nữ tù nằm ở hành lang, sát bên phòng thẩm vấn. Suốt ngày đêm, những tiếng đấm đá, la, thét, tiếng anh em bị đánh đổ vật xuống sàn nhà cứ  giội vào óc họ, đau đớn còn hơn cả bản thân bị tra tấn. Có lúc chúng đem cả Quế Hương lẫn Nguyễn Ngọc Phương vào thẩm vấn cùng một lúc, đánh đập dã man người này trước mặt người kia hòng lung lạc tinh thần.

Quế Hương nhớ như in: dù thân xác tả tơi, chân tụ máu sưng vù, khuôn mặt bầm dập, cái nhìn của anh hướng về phía chị vẫn đầy bình thản, động viên và da diết yêu thương. Mỗi lần chị gục xuống, ánh mắt của anh lại vực chị gượng đứng lên, tiếp tục chịu đựng. Cái nhìn đó, ánh mắt đó, chị còn sống là còn nhớ đến, mang theo suốt đời.

Tại Nha Cảnh sát Đô thành, Nguyễn Ngọc Phương đã từng bị địch tra tấn 2 ngày liên tục nhưng không hề hé môi. Lúc chúng dẫn anh về qua hành lang dãy buồng giam, chị Quế Hương đã thắt lòng khi thấy toàn thân anh tả tơi đẫm máu, hai tên lính áp giải xốc nách hai bên, hai chân anh thõng xuống trượt dài trên nền gạch. Chiều  hôm đó, khi  đưa cơm, một người bạn tù đã nói nhỏ đủ chị nghe: “Chút tắt nước, nghe tiếng đập tường thì kê tai vào ống nước”. Tối làm theo, chị đã được nghe tiếng anh. Toàn bộ thời gian hiếm hoi anh dành hết cho người mình yêu thương nhất: “Hôm nay ngày 25/3. Chúc mừng sinh nhật thứ 29 của em. Cố gắng chịu đựng nghe em”.

Gần 40 năm trôi qua, từng chữ một trong câu nhắn nhủ đầy yêu thương của anh vẫn còn vang lên rõ ràng trong đầu chị. Với người phụ nữ dấn thân, một lòng theo Cách mạng, đó là giây phút hạnh phúc nhất.

(Còn nữa)

Ký của N.Đ.V.
.
.
.