Người đàn bà và đám cưới sau song sắt (tiếp theo và hết)

Thứ Sáu, 11/09/2009, 17:35
Ngày 20/4/1970, địch đưa 21 sinh viên ra xét xử tại  Tòa án Quân sự mặt trận Vùng III chiến thuật. Phiên xử bị biến thành một cuộc biểu tình với rất đông đồng bào các giới và sinh viên đến dự.

Nhiều sinh viên đã tìm cách xô cả hàng rào cảnh sát, bất chấp dùi cui, khiên... lọt vào được bên trong ngồi chật cứng phòng xử. Những bị cáo sinh viên  lếch thếch nối nhau, vào tòa trong bộ dạng tả tơi nhất. Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Ngọc Phương không lê nổi, mỗi người được hai bạn tù xốc hai bên. Dương Văn Đầy, Đỗ Hữu Bút, Nguyễn Tấn Tài, Trần Khiêm... phải nằm băng ca vào phòng xử. Dù vậy, họ vẫn hiên ngang biến phiên tòa thành buổi họp báo tố cáo tội ác chế độ lao tù, lấy tấm thân tàn tạ của mình làm bằng chứng sống.

Các luật sư biện hộ gồm Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Viết Huyền, Bùi Tường Chiểu cũng tập trung vào chuyện sinh viên học sinh bị đánh đập dã man, điều 7 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa bị vi phạm trắng trợn, góp tiếng nói lên án mạnh mẽ tại Tòa.  Áp lực quần chúng và công luận khiến địch phải nhượng bộ. Cao Thị Quế Hương và 9 người khác được “tạm thích”. Nguyễn Ngọc Phương cùng 10 sinh viên nòng cốt khác thì vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Ngày 21/4/1970, các dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Cứ vào tận nhà lao Chí Hòa đón 10 sinh viên được “tạm thích” về Trường đại học Nông Lâm Súc. Sân trường lập tức  biến thành một trung tâm tập hợp đồng bào, khơi nguồn tranh đấu. Ba năm liền sau đó, “vụ án sinh viên, học sinh Sài Gòn” được xem như một khẩu hiệu và tiêu điểm đấu tranh. Cảnh sát Sài Gòn tăng cường phong tỏa, dùng cả xe vòi rồng, phi tiễn, lựu đạn cay, ma trắc để đàn áp và thẳng tay bắt bớ, đánh đập nhưng phong trào đấu tranh của sinh viên vẫn ngày một dâng cao.

Gần 2 tháng sau ngày Cao Thị Quế Hương được thả, gia đình Nguyễn Ngọc Phương đã lên Đà Lạt làm lễ cưới, chính thức nhận chị làm con dâu và đón cô dâu về Sài Gòn. Gần cuối tháng 6/1970, cô dâu Quế Hương mang theo cặp nhẫn cưới nhận từ tay mẹ của Nguyễn Ngọc Phương vào trại Chí Hòa thăm anh. Cô dâu đứng ngoài, chú rể vẫn giam thân sau song sắt, nhưng họ vẫn đeo nhẫn cưới cho nhau, chính thức thành vợ thành chồng giữa nhà tù. Những người em của Phương đã làm sẵn một chiếc bánh cưới thật to để chị Hương mang vào cho anh chiêu đãi anh em bạn tù, xem như tiệc cưới. Cho đến nay, đó vẫn là đám cưới duy nhất diễn ra giữa nhà tù Chí Hòa. Và có lẽ, đó cũng là đám cưới trong tù duy nhất trên toàn thế giới.

Sau ngày cưới, cứ vào thứ 6 hàng tuần, chị Quế Hương lại xách giỏ vào Chí Hòa thăm nuôi anh. Không chỉ là chuyện tình cảm, chăm sóc lẫn nhau của đôi vợ chồng  thủy chung, đó còn là đường dây liên lạc của phong trào tranh đấu. Chị tận dụng cơ hội đi thăm để chuyển tin tức vào cho anh và các đồng chí trong tù. Thông tin được viết bằng nước cơm trên giấy gói thức ăn, gói quà bánh thăm nuôi nên địch không phát hiện được. Khoảng thời gian gặp nhau ít ỏi, anh tranh thủ góp ý, chỉ đạo miệng về phương pháp, cách thức đấu tranh để chị về phổ biến và áp dụng.

Ít ngày sau lễ cưới đặc biệt của họ, Nguyễn Ngọc Phương  và những người còn lại lại phải ra tòa lần hai. Lần này, thêm 6 người nữa được thả, còn Phương và các anh Nguyễn Tấn Tài, Nguyễn Thành Công, Lê Văn Hoa, Nguyễn Văn Sơn thì chúng vẫn tiếp tục đưa trở lại Chí Hòa giam giữ vô thời hạn.

Chị Quế Hương (thứ 3 từ phải sang) và những đồng chí trong phong trào trong một buổi dã ngoại.

Trong tù, anh cựu sinh viên học toàn năm thứ I Nguyễn Ngọc Phương đã tranh thủ tự học thêm Pháp văn và Hoa văn. Và học rất giỏi. Hai cuốn “Hương hoa hồng”, tập truyện ngắn của nhà văn Trung Quốc Ba Kim và “Thuyền”, truyện dài của nhà văn Đài Loan Quỳnh Dao do anh dịch từ tiếng Hoa đã được NXB Trí Đăng in vào năm 1971. Anh cũng dịch xong “Nước Nga thời chiến” của nhà văn Nga Constantin Simonov từ bản tiếng Pháp “La Russie en Guerrè”.

Mãi sau này, khi đi tìm kiếm kỷ vật của anh, chị Quế Hương mới tìm được tập bản dịch này. Chị đã giao nó cho NXB Trẻ xuất bản thành sách vào năm 1997, dưới tựa đề “Mùa thu thứ ba”. Ngoài ra, anh còn sáng tác nhiều truyện ngắn, trong đó có truyện “Tiếng khóc rướm máu”, mô tả lại cuộc đấu tranh của chính anh và đồng đội trong nhà tù Phú Lợi năm 1962. Trong bản thảo của một cuốn sách để lại từ trong tù, anh có viết hai câu bằng chữ Hán: “Quế Hương đích ảnh tượng/ Thường tại ngã tâm trung” (Hình ảnh của Quế Hương/ Thường ngự  trong tim tôi).

Tháng 12/1972, chúa ngục Côn Đảo Nguyễn Văn Vệ được điều chuyển về làm quản đốc nhà tù Chí Hòa, mở ngay một cuộc đàn áp tàn bạo đối với tù chính trị. Những người Cộng sản trong tù đã tiến hành  một cuộc đấu tranh tuyệt thực để phản đối tên chúa ngục và chính sách đàn áp dã man, đồng thời đòi cải thiện dân chủ dân sinh ở trong tù. Nguyễn Ngọc Phương được chọn làm một trong những hạt nhân nòng cốt của đợt tuyệt thực này, dù cơ thể anh lúc đó đã trong tình trạng suy kiệt.

Thân xác không gượng nổi cùng ý chí kiên cường, sau 14 ngày tuyệt thực, anh kiệt sức và hôn mê. Nguyễn Văn Vệ và bọn gác ngục định bỏ mặc cho anh chết trong tù, bí mật  thủ tiêu một hạt nhân tranh đấu. Tù chính trị đấu tranh mạnh mẽ, buộc chúng phải đưa anh ra Bệnh viện Sài Gòn (trước cổng chợ Bến Thành) cứu chữa. Vẫn không từ bỏ dã tâm loại trừ Nguyễn Ngọc Phương, bọn gác ngục và chính quyền sài Gòn đã không hề thông báo việc này cho gia đình người tù biết. Tại bệnh viện, chúng cố ý không chạy chữa. Nguyễn Ngọc Phương bị bỏ mặc trong cơn hôn mê, thoi thóp trên giường bệnh, tay chân vẫn bị xích cứng, bộ quần  áo tù nhàu nát, bẩn thỉu không hề được thay, chăn đắp, gối kê không có.--PageBreak--

Sáng thứ sáu, ngày 5/1/1973, khi vào Chí Hòa thăm nuôi anh như thường lệ, chị Quế Hương mới biết hung tin. Chị vội vã bắt xe chạy ngay đến bệnh viện. Kinh hoàng, chị thấy anh chỉ còn thở hơi tàn, không còn nhận biết được gì, mắt vẫn nhắm nghiền. Bên cạnh anh vẫn còn một tên cảnh sát đứng gác. Hắn đã ngăn chị “không được làm kinh động” khi thấy chị sắp bật ra tiếng khóc.

Tột cùng lo sợ nhưng chị Quế Hương vẫn còn đủ tỉnh táo chạy ngay ra đường Lê Lợi gọi điện cho chị Bội Quỳnh, một mắt xích trong phong trào tranh đấu, để nhờ chị Quỳnh báo tin cho gia đình và đồng chí đồng đội. Sau đó chị vội chạy ngay lên với anh. Nhưng quá muộn. Trong ít phút chị không có mặt bên anh, địch đã chích cho Nguyễn Ngọc Phương một mũi thuốc độc để kết thúc mạng sống của người bệnh tù. Khi chị quay trở lại thì một nhóm bác sĩ, y tá cũng vừa vội vã rời khỏi phòng anh nằm. Nhìn thấy vệt máu rỉ đen đang ứa ra trên bắp tay trái của chồng, chị Quế Hương hiểu ngay ra tất cả, gần như ngất xỉu. Đúng lúc đó, anh thở hắt, dồn dập đợt cuối cùng. Một y tá gần như chờ sẵn đã vào đưa anh sang ngay phòng thở oxy.

Khi mẹ của Nguyễn Ngọc Phương nghe tin và chạy đến thì anh đã tắt thở, ngay trong vòng tay của người vợ thủy chung mà anh chưa một ngày được cùng chung sống. Anh ra đi trước buổi bình minh của Hòa Bình. Chỉ 22 ngày sau, Hiệp định Paris được ký kết, tù chính trị, tù binh đôi bên được trao trả.  Lúc đó, anh 37 tuổi. Điều cuối cùng chị làm được cho anh là tháo chiếc nhẫn cưới hơn hai năm trước chị đã tự tay lồng vào ngón áp út  tay trái của anh trong nhà tù đeo trở lại vào ngón tay mình. Và chị đã đeo nó suốt đời, để tin rằng vẫn luôn có anh bên cạnh.

Hàng vạn đồng bào, đồng chí đã đến viếng và tiễn đưa Nguyễn Ngọc Phương  khi lễ tang của anh được tổ chức tại nhà ở số 48 đường  Cao Bá Nhạ. Ngày 7/1/1973, sinh viên, học sinh Sài Gòn đã biến lễ đưa  tang anh thành một cuộc biểu tình khổng lồ tố cáo tội ác chế độ lao tù. Đồng bào đưa tiễn đứng chật các nẻo đường. Cảnh sát, mật vụ cũng chốt chặn, rình rập suốt những ngày tang ma và suốt chặng đường đưa tang. Hơn một tháng trời, ngôi mộ của anh ở Nghĩa trang Phú Lâm vẫn bị cảnh sát canh giữ chặt. Mặc cho chúng săm soi dòm ngó, dòng người đến đặt hoa, thắp hương tưởng nhớ liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương vẫn không ngớt đổ về.

Trước đó, những hoạt động phong trào của chị Quế Hương đã bị địch phát hiện. Tổ chức đã bố trí đường dây đưa chị thoát ra căn cứ. Nhưng cái chết của anh đã khiến chị phải nấn ná để lo việc tiễn anh về nơi yên nghỉ. Sau vài lần vượt thoát, ngày 17/1/1973, chị Quế Hương cũng bị địch bắt khi chị đi chợ Thái Bình mua đồ vào thăm nuôi một người  em ruột khác là  Cao Duy Hùng đang bị bắt giam tại Chí Hòa vì tội trốn lính và tham gia tranh đấu. Lúc đó, chị đang là giáo viên dạy học tại Trường Đức Trí, cách đường Cao Bá Nhạ không xa nhưng địch vẫn không hề hay biết. Chúng chuyển chị qua rất nhiều địa ngục, từ trại giam Tổng nha đến các nhà lao Thủ Đức, Tân Hiệp... với đủ loại đòn tra. Ánh mắt yêu thương của anh, tinh thần bất  khuất của anh đã trở thành nguồn sức mạnh vực chị đứng vững trước những đòn tra nghiệt ngã của những năm tháng đọa đày. Đơn giản, chị muốn sống xứng đáng với anh, với tư cách là vợ của một người anh hùng.

Sau ngày giải phóng, bà Quế Hương chuyển hẳn về Đà Lạt sinh sống và nghỉ hưu vào năm 1995, khi đang là Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng.  Năm nào cũng thế, cứ đến ngày 5/1, bà lại có mặt ở TP Hồ Chí Minh để làm đám giỗ cho chồng. Đó cũng là một cơ hội để gặp gỡ những anh em, đồng chí cũ của phong trào tranh đấu. Không cần giấy mời hay nhắn nhủ, năm nào đồng đội xưa cũng tụ về. Còn sống hay đã mất, xung quanh liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương vẫn luôn quây quần rất đông anh em, bạn bè, đồng chí.

Trên mảnh vườn xưa nằm chênh vênh trên một sườn đồi ở đường Đào Duy Từ, Đà Lạt, có một ngôi nhà được xây thành 3 căn để 3 người em ruột của bà Quế Hương làm nơi ở. Phần mình, bà chẳng giữ lại gì cho riêng mình ngoài những ký ức về liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương. Bà bằng lòng ở vậy thờ chồng, không đi bước nữa.  Không một ai thay thế được liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương trong lòng người đàn bà mất mát.

Trong phòng khách của căn cuối cùng trong 3 căn nhà liền kề, bức ảnh duy nhất được treo trên tường là ảnh Nguyễn Ngọc Phương trong lần ra tòa lần đầu năm 1970, chân đi không vững, được hai bạn tù dìu xốc nách hai bên. Mặc kệ cuộc đời ồn ã xoay vần, bức ảnh ấy, cảnh tượng thân thương ấy vẫn là cuộc sống của bà. Để khuây khỏa, bà mua mấy sào vườn trồng chè ở  thị xã Bảo Lộc, tuần nào cũng dành đôi ba bữa lên chăm sóc. Bà chẳng bán sản phẩm bao giờ. Chè trồng được chỉ để nhà dùng và đem biếu người thân, bạn bè.

Đầu đường Đào Duy Từ bạt ngàn một sắc hoa phượng tím. Trên dãy hàng rào quanh nhà bà Quế Hương, những dây bìm bìm đang lặng lẽ bò lan cũng tím, màu tím se sắt cả lòng. Hôm tôi đến, bà cũng đãi tôi cốc chè tươi pha gừng cay nồng, vừa đủ để xua cái lạnh buổi mai, làm loãng dần và xua đi những vạt sương mỏng lượn lờ phủ dưới chân đồi phía sau nhà. Câu chuyện tạm ngưng thì sau mấy hôm mưa dầm dề  nắng cũng ửng lên. Tôi chợt vỡ ra một điều: vì sao hoa bìm bìm đang bò trên bờ rào xứ này tím thế. Tím hơn ngày xưa, tím hơn cả ngày sau, tím như chưa bao giờ tím hơn được thế. Hình như hoa cỏ xứ này cũng đã nhuộm nỗi thương nhớ  đợi chờ.

Tôi chào bà rồi ra về, khi ngoảnh lại, tôi thấy bà vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, vẫn lọt thỏm trong chiếc ghế nhỏ nhưng vẫn quá rộng so với người phụ nữ gầy guộc và cô đơn nhưng đầy kiêu hãnh ấy. Album ảnh cũ kỹ, ố vàng về liệt sĩ, người chồng quá cố Nguyễn Ngọc Phương vẫn được bà nâng niu giở nhẹ từng trang.  Mấy chục năm rồi người đàn bà ấy đã thường trực một dáng ngồi như thế, như thể vẫn kiên gan chờ đợi một sự trở về. Có lẽ, bà vẫn đang chờ mà không cần biết, không muốn biết sẽ chờ, sẽ đợi điều gì.

Im lặng ngoái trông, không dám làm kinh động dáng ngồi hóa đá của bà, tôi hiểu, người anh hùng thuở nào vẫn không hề mất. Có lẽ, trong lòng bà, trong lòng tôi, trong tấm lòng tri ân của rất nhiều người, những con người bất khuất một thời như liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương sẽ không bao giờ mất. Tinh thần của họ vẫn sống với cây cỏ quê hương để nhuộm tím một màu hoa!

Đà Lạt, tháng 7/2009

N.Đ.V.
.
.
.