Ngậm ngải tìm trầm (tiếp theo và hết)

Thứ Sáu, 17/09/2010, 12:20
Anh Dũng bước đến, miệng lẩm nhẩm, mà tôi nghĩ rằng anh đang khấn vái, rồi đón cây rựa từ tay anh Được trong lúc tôi kín đáo lấy chiếc điện thoại di động ra, vờ làm như kiểm tra xem có sóng hay không, rồi để ở chế độ camera, bấm cái toách. Nhắm tới nhắm lui một lúc, anh vung rựa, chặt vát góc 2 nhát vào đoạn gần gốc cây, mỗi nhát sâu cỡ 5cm...

1. Sáng hôm sau, lúc tôi chui ra khỏi võng thì cơm nước đã nấu xong. Cố nuốt hai lưng bát với muối sả mặn cháy lưỡi, tôi lại balô lên vai, cùng nhóm đi "điệu" tiến sâu vào rừng.

Đến lúc này, tôi mới biết việc tìm trầm chỉ là việc phụ - vì trầm còn đâu nữa mà tìm - họa may được... "Cậu" độ như anh chàng đặt bẫy nào đó, mà mục đích chính của nhóm anh Dũng là tìm những cây dó trắng, dó đen, dó hương, có đường kính từ 20cm trở lên, dùng rựa "mở miệng" rồi để đó.

Khoảng 1 năm sau, họ sẽ quay vào xem cây dó ấy, có tạo trầm hay không. Nếu có, họ đánh dấu chủ quyền rồi 3, 4 năm sau, mới lại vào để khai thác. Tôi hỏi: "Lỡ có nhóm khác thấy thì sao?". Anh Dũng, đáp: "Trước đây, không ai xâm phạm của ai nhưng bây giờ, dân tứ xứ kéo nhau về tìm trầm nên chuyện cây dó mình đã mở miệng còn hay mất, là chuyện hên xui may rủi".

Có thể nói, dân "ngậm ngải tìm trầm" phải đối mặt với vô vàn nguy hiểm.  Nhẹ nhất là đi lạc, hết gạo hết muối, phải sống cầm hơi bằng củ rừng, rau rừng, đến những trận sốt rét ác tính mà lắm người vào rừng thì "đi bằng chân", ra rừng thì "đi bằng đầu" - nghĩa là có người khiêng. Lại có người bị rắn độc cắn, "vô thuốc" không kịp, chết ngắc, chưa kể lũ cuốn, cây đè.

Thế nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi tìm được trầm, họ ăn chơi xả láng đến nỗi người ta gọi dân đi "điệu" là những người "ăn xịn, chơi sộp nhưng... mau xẹp". Ăn xịn là khi tìm được trầm, bán xong họ kéo vào quán nhậu, thưởng thức đủ loại sơn hào hải vị, hoặc mua sắm đồ dùng trong nhà mà không cần đắn đo tính toán. Chơi sộp là trên đường đi tìm trầm, nếu một ai đó tình cờ gặp họ đúng vào lúc họ tìm ra trầm thì người đó cũng được chia phần, còn mau xẹp là ăn xài như vậy, tiền núi cũng hết.

Anh Thắng, nói: "Đọc báo, thấy báo viết tụi tui góp phần phá rừng là oan cho tụi tui. Người đi tìm trầm chỉ chặt cây dó, hoặc mở miệng cây dó. Mà trong rừng, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cây mới có một cây dó. Chẳng ai điên khùng chặt những loại cây khác làm chi vì vừa tốn công tốn sức, lại cũng đâu đem ra được".

Trầm, kỳ khan hiếm, khoảng đầu những năm 80 của thế kỷ trước, một số người nghĩ ra cách trồng cây dó để lấy trầm. Theo thống kê của Hội Trầm hương Việt Nam, đến nay trên cả nước đã có 22 tỉnh, thành phố trồng dó với tổng diện tích khoảng hơn 8 nghìn hécta nhưng con số này vẫn chưa dừng lại. Mặc dù thời gian để một cây dó cho ra trầm khá dài - trung bình phải mất từ 10 đến 15 năm  nhưng nếu có trầm, thì lợi nhuận rất cao nên chỉ tính riêng ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Lâm trường Vạn Ninh (nay là Ban quản lý rừng phòng hộ Vạn Ninh) đã có tổng cộng 56,2 hécta trồng cây dó, trong đó có những cây được trồng từ năm 1988 - mà vẫn chưa có trầm! Ở những huyện khác, như huyện Khánh Vĩnh, có người trồng cả 5 nghìn cây như anh Văn Tấn Việt còn ở huyện Khánh Sơn, hiện nay cũng có trên 10 nghìn cây.

Ông Trần Nhiều, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Vạn Ninh khi tiếp xúc với tôi, đã cho biết: "Chúng tôi đang kêu gọi những nhà đầu tư cùng hợp tác để khai thác 56,2 hécta này". Riêng trong dân, số lượng cây dó đếm không hết bởi lẽ có hộ chỉ trồng 5, 10 cây cầu may nhưng cũng có hộ trồng cả trăm cây.

Theo tính toán, từ khi bắt đầu trồng đến lúc có trầm, 1 hécta với 1.000 cây dó, chi phí mất chừng 400 triệu nhưng nếu có trầm, thì thu hoạch vài ba tỉ đồng là chuyện hoàn toàn có thể.

Thế nhưng, làm cách nào để cho ra trầm còn là ẩn số. Theo anh Tới, cán bộ Ban  quản lý  rừng phòng hộ Vạn Ninh, và cũng là Hội trưởng Hội Trầm hương huyện Vạn Ninh, thì: "Đã có những nhóm chuyên gia người Nhật, người Đài Loan đến đây, xúc tác cho cây dó ra trầm mà không kết quả". Việc "không kết quả" ấy một phần có nguyên nhân từ cây giống. Do không được hướng dẫn cụ thể nên phần lớn nông dân cứ nghĩ hễ đã là cây dó thì sẽ phải cho ra... trầm nên họ trồng búa xua.

Một công ty còn hướng dẫn cho nông dân cách tạo trầm từ cây dó bằng phương pháp khoan vào thân cây rồi "vô hóa chất". Theo hướng dẫn ấy, thì dùng mũi khoan 10mm, khoan từng cụm 2 hoặc 3 lỗ vào thân cây, sâu 5 hay 6cm tùy theo đường kính, mũi khoan hướng xuống 45 độ. Cứ mỗi cây dó, khoan 3 hàng, cụm này cách cụm kia từ 30 đến 40cm và các cụm khoan so le nhau. Sau đó, phun hóa chất vào từng lỗ khoan. Mỗi lít hóa chất, công ty bán 300 nghìn đồng, bơm được 5 hoặc 6 cây rồi sau 2 năm, là thu hoạch.

Sau này, lúc tình cờ gặp được ông Khanh, cựu giảng viên Trường Đại học Tổng hợp Huế, cựu giảng viên Trường đại học Bách khoa TP HCM, đồng thời còn là một trong những chuyên gia về xử lý cây dó để tạo trầm, và khi nghe tôi hỏi, ông đã nói: "Thế hệ bố mẹ của cây dó phải trên 15 năm, và ưu tiên là dó bầu hương, rồi mới đến dó  bầu trắng, dó  bầu đen. Còn những loại dó khác thì... vứt! Chưa kể cây dó ấy phải được trồng trên vùng đất nào, thổ nhưỡng ra sao, chế độ tưới tắm, phân bón, lúc nào thì mở tán...".

Tôi hỏi tiếp: "Làm cách nào để có trầm?", ông Khanh đáp: "Nếu chỉ "mở miệng" cây rồi để đó chờ... sung rụng thì tỉ lệ rất thấp, mà phải xúc tác bằng chất hóa học khiến vết thương trên cây không lành được thì cây mới tiết ra trầm". Vậy chất hóa học đó là chất gì? Ông Khanh cười: "Bí mật".

Ông Khanh đang khảo sát một cây dó ở lán ông Kê.

2. Nhưng thôi, đó là chuyện tôi sẽ nói tiếp ở phần cuối phóng sự này. Còn bây giờ, cứ lầm lũi mà bước. Nghe tiếng tôi thở hồng hộc khi leo lên một con dốc, mồ hôi mồ kê nhễ nhại trong lúc chung quanh tôi, sương trắng mờ mịt, gió thổi lạnh buốt. Anh Lâm bước ngay sau lưng tôi, cười: "Nhắm đi nổi nữa không? Nếu mệt quá thì trưa mai, sẽ đến lán ông Kê. Ở đó, có xe ôm đưa ra thị trấn Vạn Ninh". Tôi cũng nhìn anh cười, bụng nghĩ thầm, thôi thì chưa biết "Cậu" có độ hay không, nhưng lội rừng kiểu này thì chắc là thuê xe ôm về thật!

Khoảng 10 giờ, anh Được đi đầu bỗng dừng lại, hạ balô xuống rồi rút cây rựa ra. Theo ngón tay của anh, tôi thấy một thân cây màu xám đen, lốm đốm những khoang nhỏ màu trắng, cao chừng 10m, đường kính gốc cây chừng 20cm, mọc trơ trọi giữa một bãi cỏ. Anh nói: "Cây này là dó bầu hương". Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cây dó giữa thiên nhiên đại ngàn, một thân cây xấu xí, chẳng có gì ấn tượng nhưng sẽ là hàng tỉ đồng hoặc hàng trăm triệu đồng nếu sau này nó có kỳ nam hoặc trầm.

Anh Dũng bước đến, miệng lẩm nhẩm, mà tôi nghĩ rằng anh đang khấn vái, rồi đón cây rựa từ tay anh Được trong lúc tôi kín đáo lấy chiếc điện thoại di động ra, vờ làm như kiểm tra xem có sóng hay không, rồi để ở chế độ camera, bấm cái toách. Nhắm tới nhắm lui một lúc, anh vung rựa, chặt vát góc 2 nhát vào đoạn gần gốc cây, mỗi nhát sâu cỡ 5cm.

Bước sang phía bên kia, anh vát thêm 2 nhát nữa nhưng ở phần thân cao hơn. Người mù mờ như tôi nếu gặp lại nó lần thứ hai, chưa chắc đã biết nhưng với dân đi "điệu" chuyên nghiệp, thì cây dó lẻ loi này, liệu có tồn tại đến ngày nhóm anh Dũng quay lại, lấy trầm hay không bởi lẽ chỉ khoảng 500m cách đó một đoạn dốc, anh Được đã chỉ cho tôi thấy một cây dó đen, bị một nhóm đi "điệu" nào đó chặt ngã xuống để tìm trầm!--PageBreak--

3. Tiếp tục lên đường, mà toàn là lên dốc. Địa hình ở đây gồm núi đá, mọc xen lẫn những loại cây tạp đan kín vào nhau trong đó có những gốc đa to cỡ 4, 5 người ôm, rễ tỏa xù xì, dây leo từng cụm vắt vẻo mà ánh mặt trời hầu như không soi xuống nổi. Chẳng cần bản đồ, nhóm đi "điệu" vẫn xăm xăm bước như thể đường đi trong đầu họ. Hai bát cơm muối sả trong bụng tôi tan hết tự hồi nào, miệng khát khô. Thấy tôi ừng ực tu chai nước, anh Được nói: "Đi mệt đừng uống nước nhiều. Uống từng ngụm  vì uống nhiều lại mệt thêm".

Một đêm nữa lại trôi qua trong rừng. Quanh bếp lửa, anh Lâm, anh Được kể cho tôi nghe nhiều chuyện về cây dó bầu, về trầm hương, kỳ nam. Theo các anh, tương truyền rằng hồi xưa, nữ thần Thiên Y A Na - là một vị thần của người Chăm, khi dạo chơi trong rừng, hương thơm từ thần tỏa ra, quyện vào cây dó, tạo thành trầm.

Anh Được nói đi rừng hễ gặp cây dó nào, cao từ 30 đến 50m, lá đã vàng và nhỏ, trên thân cây có nhiều u, nần, hoặc dưới gốc có tổ kiến, tổ mối thì có thể có trầm hoặc kỳ nam. May mắn gặp loại cây ấy, dân đi "điệu" đào tróc gốc vì lắm khi, trầm, kỳ nam nằm ở dưới gốc. Riêng thân, cành, họ chặt gọn, bó từng bó mang về bán cũng được cả chục triệu. Lại nữa, trước khi hạ cây dó, phải tìm đến sông, suối tắm rửa thật sạch, còn nếu quanh đó không có nước, thì phải khấn vái, cảm ơn các "thần rừng".

Còn tại sao lại gọi là "trầm hương" thì theo anh Dũng: "Trầm là chìm. Nó chìm và có mùi thơm nên gọi là trầm hương, thế thôi". Cách giải thích này chẳng hiểu có đúng với định nghĩa khoa học hay không vì qua phân tích, trầm hương chứa một số loại tinh dầu, trong đó chủ yếu là benzylaceton, methoxybenzylaceton, terpen alcol, acid cinamid và nhựa, nhưng xem ra có lý vì như tôi đã nói, dân "tào kê" thử trầm bằng cách thả nó vào nước.

Xế trưa, chúng tôi đến lán ông Kê. Vẫn là một khoảng đất nằm trên một đỉnh đồi lổn nhổn đá, được chủ nhân dọn sạch cây tạp để làm nơi nuôi heo rừng, đồng thời trồng thêm vài chục cây dó. Hai căn lán nhỏ bằng gỗ, một làm chỗ ngủ, một để ngồi ăn cơm, uống nước và cũng là nơi chứa nông cụ nằm đối xứng hai bên.

Tại đây, tôi gặp ông Khanh, cùng đi với anh Tới, cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ Vạn Ninh, đồng thời cũng là Hội trưởng Hội Trầm hương huyện Vạn Ninh và anh Cơ, cán bộ kiểm lâm.

Theo ông Khanh, ông từ TP HCM ra bàn về việc hợp tác với Ban quản lý rừng phòng hộ Vạn Ninh để xử lý 56,2 hécta cây dó, cũng như tìm thuê thêm đất để trồng cây dó bầu. Ông cho biết nghe nói nhiều người dân ở đây trồng dó, nên ông đã nhờ Ban quản lý đưa ông đến tận nơi, để tính đến chuyện hợp tác cho ra sản phẩm về sau này.

Nhóm anh Dũng chia tay tôi trong lặng lẽ vì tôi cảm giác họ ngần ngại khi phải gặp mặt anh Cơ, cán bộ kiểm lâm. Hẳn là trước đây, nhiều người trong số họ đã từng đi khai thác gỗ lậu, hay đi săn, bẫy thú, và đã từng bị anh Cơ xử lý? Tôi đưa hết cái balô bên trong vẫn còn 2 ký gạo, vài gói mì, lọ mắm, bịch đường cát, túi bột ngọt cùng mấy vỉ thuốc cảm, thuốc kiết lị, tiêu chảy cho anh Thắng, chỉ giữ lại bộ quần áo.

Nhìn họ lầm lũi bước xuống con dốc, tôi thấy lòng bùi ngùi. Mới đêm hôm qua, anh Dũng còn chỉ cho tôi cách căng võng thế nào để nếu trời mưa, nước không chảy vào võng. Anh Thắng chỉ tôi cách "trùm mền" ngủ mà không ngộp. Thật lòng mà nói, tôi cũng mong cho họ "mở miệng" được nhiều cây dó, dẫu rằng chưa biết vài ba năm nữa, họ có thu được mảnh trầm nào không.

Lán ông Kê chỉ là một trong những lán mà người dân Vạn Ninh dựng lên giữa rừng để chăn nuôi, trồng cây ăn quả và trồng cây dó. Lợi dụng những con suối, nhiều lán lắp đặt những máy thủy điện nhỏ, loại 1,2kw/giờ để thắp sáng, xem tivi.

Trầm hình thành trong lõi cây dó.

Theo những tài liệu đã được phổ biến, thì khoa học tạo trầm cho cây dó bằng cách cấy vào nó các chủng loại nấm như Aspergillus phoenicis Thom, Pénicillium citrinum Thom và Pénicilliumsp. Kết quả cho thấy khoảng 30% số cây được cấy có dấu hiệu có trầm vì khi tách ra một mẩu đem đốt, có mùi thơm của trầm. Tuy nhiên, theo ông Khanh, phương pháp của ông cho ra kết quả cao hơn.

Chỉ tay vào một thân dó, ông nói: "Trong tất cả những cây dó ở lán ông Kê, mỗi cây này đều có khả năng cho ra trầm vì nó là dó hương". Hỏi ra mới biết, ông Kê bứng cây ấy từ trong rừng khi nó còn rất nhỏ, rồi đem về trồng nên chỉ sau 5 năm, đường kính thân  đã xấp xỉ 30cm.

Nghe nói ở Quảng Nam, có ông Nguyễn Hảo, vốn là dân đi "điệu". Sau nhiều năm, ông tìm được phương pháp tạo trầm cho cây dó và hiện tại, ông đã có khoảng 1 nghìn cây trầm trên 10 năm tuổi, mỗi cây giá từ 30 đến 40 triệu đồng. Nhưng, nhiều chuyên gia về trầm hương nhận định: "Nếu mỗi cây dó chỉ có giá 30, 40 triệu thì chưa thể gọi là trầm" hay chính xác hơn, để thật sự trở thành trầm, xin vui lòng đợi khoảng 80 hay 100 năm nữa!

Thực tế cho thấy đến nay, sự hiểu biết của đa số người trồng dó về đời sống của cây dó, về nguyên lý tạo trầm hương, kỳ nam vẫn còn rất mù mờ nên vì thế, trong 300 hécta cây dó ở tỉnh Khánh Hòa, tỉ lệ phát triển tốt chỉ đạt khoảng 20 đến 30% mặc dù Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã đưa chương trình trồng dó thành mục tiêu lớn. Lấy thí dụ như 56,2 hécta cây dó của Ban quản lý rừng phòng hộ Vạn Ninh chẳng hạn, bỏ thì thương, vương thì tội bởi lẽ mặc dù không có trầm, nhưng Ban quản lý vẫn phải cắt cử người coi sóc, còn chăm bón đành phó mặc cho trời do thiếu kinh phí. Vì thế, có lẽ khi chưa có thị trường chính thức từ việc tiêu thụ trầm hương cùng cây dó, cũng như chưa có những phương pháp thống nhất về cách chăm sóc, cách xử lý tạo trầm sao cho hiệu quả, thì chưa nên đẩy cây dó lên thành loại cây bạc tỉ thần kỳ.

Cuối cùng, xin viết thêm vài dòng về nhóm đi "điệu" của anh Dũng. Trong suốt 2 ngày 2 đêm lội rừng cùng họ, chẳng ai biết tôi đi để viết báo. Dưới mắt cả nhóm, tôi chỉ là một tay mũ cao áo dài ở thành phố, hứng chí mò ra theo chơi. Vì thế, nếu thấy ảnh của mình trên báo cùng những câu chuyện mà các anh đã kể, thì hẳn các anh cũng mỉm cười và vui lòng cho tôi hai chữ đại xá vì như anh Lâm đã nói, nếu có trầm tôi cũng được... chia phần

Vũ Cao
.
.
.