Ma lực trầm kỳ (kỳ cuối)
Đưa hương dó về vườn rừng gia đình
Một số tài liệu nghiên cứu cho biết, trầm hương và kỳ nam có tên khoa học Aquilaria Crasna Pierre. Đây là sản phẩm đặc biệt được sinh ra, tích tụ trong lõi của cây dó - một loại đại mộc có thể cao từ 40 đến 50m. Cùng sinh ra từ cây dó, nhưng trầm thường tích tụ ở phần thân, còn kỳ ở phần rễ.
Theo ông Hoàng Cảnh, thành viên Hội Trầm hương Việt Nam - Giám đốc Công ty Cổ phần Miền Đông Xanh TP HCM cho biết: tùy theo hàm lượng tinh dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ mà trầm hương có những tên gọi khác nhau như trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn, trầm rục, trầm sanh...
Phẩm cấp trầm hương được xếp thành 3 hạng, mỗi hạng chia thành nhiều loại. Hạng nhất là kỳ nam có phẩm cấp cao nhất, cho nhiều dầu, nhẹ, mềm, dẻo, nhuyễn. Khi nếm có đủ vị chua, cay, đắng, ngọt; tỏa mùi thơm tự nhiên. Khi đốt có mùi hương thơm đặc biệt, khói xanh, sợi khói lên thẳng và cao, lơ lửng trong không khí rất lâu. Kỳ nam được xếp theo thứ tự 4 loại: "nhất bạch" có màu trắng ngà, xám nhạt; "nhị thanh" có màu xanh xám, ánh lục; "tam huỳnh" có sắc vàng sẫm, vàng nâu; "tứ hắc" có màu đen chàm.
Hạng hai là trầm, ít dầu, vị đắng, khi đốt khói bốc lên thành vòng rồi tan nhanh. Trầm hương hàng hai được xếp thành 6 loại theo thứ tự màu sắc sáp trắng, sáp xanh đầu vịt, sáp xanh, sáp vàng, vằn lông hổ và sắc vàng đốm dầu. Còn sách xưa chia trầm thành 5 loại: hoàng lạp trầm, hoàng trầm, giác trầm, tiến hương, kê cốt hương.
Hạng ba là tốc, được chia thành 4 loại: tốc đỉa, tốc dây, tốc hương và tốc pi.
Trầm kỳ có giá trị kinh tế rất cao trên thị trường thế giới, đặc biệt là tại các nước, vùng lãnh thổ Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan, Nhật Bản... Giới “đi điệu” lành nghề cho hay, mỗi ký kỳ nam giá từ 30.000 đến 35.000 USD, trầm hương từ 200 đến 4.000 USD, mỗi lít tinh dầu trầm hương tùy theo chất lượng, công nghệ sản xuất có giá từ 10.000 đến 50.000 USD. Ngoài việc sử dụng trầm hương làm hương liệu để chiết xuất, điều chế ra các loại nước hoa cao cấp dành cho giới quý tộc như Nuit D'Orien, Santal...
Theo đông y, trầm kỳ còn là nguồn dược liệu rất quý hiếm, được sử dụng để bào chế ra nhiều loại thuốc đặc biệt có khả năng chữa trị được nhiều loại bệnh. Dùng trầm hương xông trong nhà trừ được khí độc, mang theo kỳ nam trong người như một thứ "bùa hộ mệnh" phòng ngừa sơn lam chướng khí.
Theo y học cổ truyền, trầm hương tính ôn, vị cay, thơm, tác dụng ba kinh: tỳ, vị và thận, giáng khí, làm ấm thận, tráng nguyên dương, giảm đau và an thần.
Thông thường trầm hương dùng điều trị các chứng chướng khí nghịch gây khó thở, hen suyễn thở dốc và những cơn nấc kéo dài không dứt. Mặt khác, có tác dụng trợ tim, lợi tiêu hóa, chống nôn, trị tiêu chảy, thổ tả, ho có đờm dãi, giúp nam giới bền vững tinh khí... Tuy nhiên, trầm kỳ không thể dùng cho phụ nữ có thai, âm hư hỏa vượng, người đang sốt, khô gầy, suy nhược, biếng ăn, suy gan... Có khoảng 60 bài thuốc y học cổ truyền sử dụng trầm kỳ.
Theo tập tục xưa nay, vào những ngày lễ hội, cúng tế, đón tết, gỗ trầm hương thường được đốt trong những chiếc lư, đỉnh để tạo mùi thơm trong nhà, đình chùa và dâng hương khói tỏ lòng thành kính tổ tiên, tưởng nhớ đến người xưa. Theo đó, trầm hương được một số tôn giáo coi như vật "giao lưu truyền cảm" giữa thế giới thực tại với cõi thần linh.
Cũng theo ông Hoàng Cảnh trong bài viết nhân kỷ niệm hai năm thành lập Hội Trầm hương Việt Nam, trầm hương mua bán trên thị trường hầu hết là khai thác từ thiên nhiên, tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và vài nước Nam Á như Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan.
Do nạn khai thác trầm hương vào những thập niên cuối của thế kỷ XX có tính chất hủy diệt cây dó, khiến cho nguồn cung cấp trầm hương ngày càng cạn kiệt.
Năm 1993, Indonesia khai thác và xuất khẩu hơn 661 tấn trầm hương, nhưng sản lượng năm 1997 chỉ còn 302 tấn; Malaysia khai thác từ 43,6 tấn còn 21,6 tấn; Campuchia năm 1995 khai thác và xuất khẩu 133,8 tấn, nhưng 3 năm sau chỉ còn 13,2 tấn; Ấn Độ năm 1995 xuất khẩu 15,1 tấn thì năm 1997 chỉ còn 1,4 tấn. Riêng tại Việt Nam, sản lượng trầm hương khai thác và xuất khẩu trong 5 năm (1986-1990) khoảng 1.163,9 tấn. Nhưng cũng giống như các nước là số lượng ngày càng giảm sút. Chẳng hạn năm 1985 khai thác và xuất khẩu 216,1 tấn thì năm 1990 chỉ còn 73,4 tấn.
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã xếp cây dó có khả năng cho trầm hương là loài hoang dã đang bị đe dọa tuyệt chủng, phải nghiêm cấm khai thác, buôn bán.
Tại Việt Nam, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 18/HĐBT ngày 17/1/1992 quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý.
Theo đó, cây dó bầu thuộc nhóm thực vật IA, là thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng. Thế nhưng, nạn chặt phá cây dó bầu để tìm trầm diễn ra thường xuyên đã khiến cho nguồn cây dó tự nhiên đang dần cạn kiệt.
Thấy được giá trị kinh tế và khoa học của trầm hương, nên cuối những năm 80 thế kỷ trước, một số người chuyên nghề “đi điệu” đã ở huyện miền núi Tiên Phước, Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; Hoài Ân, tỉnh Bình Định... đã đưa cây dó bầu từ rừng tự nhiên về trồng trong vườn nhà rồi mày mò cấy ghép tạo trầm hương. Từ đó diện tích cây dó bầu phát triển và mở rộng đến các tỉnh ở miền Trung, miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên.
Sau đó, một số đề tài nghiên cứu về cây dó bầu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có đề tài nổi bật do Trung tâm Nghiên cứu lâm đặc sản thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện trong giai đoạn 1987-2000 như "Biện pháp gây tạo giống cây dó", "Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành trầm hương trên cây dó"; "Kỹ thuật tạo trầm hương trên cây dó".
Cho đến nay, cả nước có 22 tỉnh đã và đang trồng cây dó bầu tập trung trên diện tích hơn 10.000 ha, tạo ra một góc nhìn mới về mô hình kinh tế rừng.
Tính pháp lý về trồng cây dó bầu đã được xác định cụ thể tại Quyết định số 16/QĐ-BNN ngày 15/3/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo đó dó bầu thuộc danh mục cây trồng rừng sản xuất tại 6/9 vùng sinh thái lâm nghiệp. Từ ngày 23/7/2004, Hội Trầm hương Việt Nam cũng đã được hình thành.
Cách đây hơn 2 năm, người dân ở thôn Đông Bắc, xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Lê Văn Kiểm đưa về hơn 200 cây giống lạ để trồng xen cây ăn quả trên diện tích 3 ha. Dò hỏi mới biết sau khi giã từ nghề “đi điệu”, mùi hương trầm kỳ vẫn tỏa thơm trong những giấc mơ, nên ông Kiểm mua cây dó bầu đưa về trồng và tìm hiểu kỹ thuật cấy ghép, tạo trầm.
Đến nay, "vườn rừng" dó bầu đã hơn 3 tuổi, ông Kiểm thu hái hạt và ươm giống với tỉ lệ nảy mầm 90%. Một cây dó bầu khi đã cấy ghép để tạo trầm ở tuổi thứ 5 có giá ít nhất 3 triệu đồng, theo đó, mỗi ha 1.200 cây sẽ thu được gần 4 tỉ đồng, nếu không cấy ghép tạo trầm mà chỉ sử dụng nguyên liệu làm hương và bột giấy cao cấp cũng thu được mỗi cây 500.000 đồng.
Không riêng ông Kiểm, mà nhiều hộ gia đình khác ở Khánh Hòa đã triển khai mô hình trồng xen cây dó bầu trong “vườn rừng” gia đình như anh chị Phạm Cao Trí - Nguyễn Thị Kim Liên ở thôn 3, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa trồng 2.000 cây; anh Lê Văn Xang ở thôn Đá Mài, xã Diên Tân, huyện Diên Khánh trồng 1.000 cây; anh Văn Tấn Việt ở thôn A Xay, xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh 1.000 cây...
Giữa tháng 9/2007, một số doanh nghiệp trong nước đã hỏi mua "vườn rừng" 3.300 cây dó bầu đã đến tuổi có thể cấy ghép tạo trầm của ông Trần Văn Giám ở xã Phước Bình, huyện miền núi Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận với giá 12 tỉ đồng, nhưng người nông dân này không đồng ý...
Trồng cây dó bầu tạo trầm hương sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiềm năng thị trường rộng lớn, trong khi nguồn cung cấp trầm hương ngày càng khan hiếm. Điều đặc biệt là gần như chỉ có cây dó bầu ở Việt Nam, Lào, Campuchia mới cho trầm hương nhiều và chất lượng tốt. Chính vì vậy việc mở rộng diện tích cây dó bầu theo mô hình “vườn rừng” phân tán, trồng xen kẽ trong các loại cây khác sẽ hướng tới mở ra nhiều triển vọng mới về kinh tế hộ gia đình
