Huyền tích hang ông Cồ Tu Tiên

Thứ Ba, 10/12/2013, 07:35

Cho đến tận bây giờ, người dân Khmer và người Hoa sinh sống ở 2 tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng vẫn còn đồn đại về chuyện cách nay hơn 100 năm có một vị tiên tại thế ẩn tu ở núi Tô thuộc tỉnh An Giang. Vị tiên này chuyên luyện linh đan thần dược trị bệnh và đã cứu được rất nhiều người mắc bệnh nan y. Người Khmer gọi vị tiên tại thế này là Tà Pi, còn người Kinh gọi là ông Cồ.

Giai thoại ông tiên Cồ

Ông Châu Thơi, 79 tuổi, cư ngụ phường 6, tp Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) cho biết, mẹ ông là cụ Sót, ngày còn sống thường kể về sự linh nghiệm của thuốc Tà Pi. Thời còn trẻ, bà bị đau bệnh triền miên. Năm 20 tuổi, đúng vào dịp tết Chol Ch'nam Th'may, bà bỗng ói ra máu ồ ạt rồi mê man bất tỉnh. Gia đình đưa đi bệnh viện của Pháp ở Cần Thơ cấp cứu.

Sau 2 ngày nằm viện, bà hồi tỉnh nhưng vẫn ói ra máu liên tục. Bác sĩ Pháp lắc đầu bảo đưa về nhà chuẩn bị chôn cất. Khi gia đình chuẩn bị thuê xe ngựa đưa bà về thì có một vài người Khmer bảo rằng, ở vùng núi Tô, Tri Tôn có một ông Tà không mặc áo chuyên làm phép cứu người rất linh nghiệm.

Bấu víu vào lời đồn nhuốm đầy màu sắc huyền bí làm niềm hy vọng mong manh, gia đình thuê xe ngựa nhắm hướng Tri Tôn đi suốt ngày lẫn đêm. Mất 2 đêm 1 ngày, 2 lần dừng chân vì con ngựa già nua lăn ra đất bất tỉnh vì kiệt sức, gia đình mới tìm được nơi ẩn cư của ông Tà tại thế là một hang đá hoang sơ dưới chân núi Tô. Khi ấy, bà Sót đã gần chết, chỉ còn thoi thóp.

Ông Tà đặt bà Sót nằm trên một tảng đá phẳng rồi nhổ một nắm ngải, giã nát đổ vào miệng bà Sót. Nước ngải vừa vào miệng, bà Sót đã tỉnh dậy ngay. Sau 2 ngày điều trị, bà Sót tỉnh táo, khỏe mạnh như người chưa từng bị bệnh. Thế là người nhà để bà Sót ở lại hang đá suốt 3 tháng làm lao công quét dọn để trả ơn cho ông Tà Pi.

Tiếng lành đồn xa, người Khmer khắp vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long nườm nượp kéo đến xin thuốc tiên. Lạ là, bệnh gì ông Tà cũng dùng củ ngải giã nhuyễn để cho bệnh nhân uống.

Cổng chùa Hang.

Một giai thoại khác liên quan đến Tà Pi cũng không kém phần thú vị. Vào khoảng năm 1890, một cô gái tên Mai Thị Hui ở Bạc Liêu bị bệnh nặng nằm liệt giường không nói năng gì suốt cả năm trời. Một hôm bệnh trở nặng, cô gái chết, gia đình đã chuẩn bị làm đám ma.

Bất ngờ, sau khi chết 1 ngày, cô tỉnh dậy cất tiếng thều thào kể: Cô nằm mơ gặp một ông Tà râu dài dẫn đường đến vùng núi Tô xa xôi hiểm trở. Ông Tà bảo cô đến đó tu. Nói xong, cô gái tắt thở. Gia đình nghĩ đó là lời trăng trối của người chết nên không hỏa táng theo phong tục cổ truyền mà đưa linh cữu cô gái về núi Tô địa táng. Họ thuê một chiếc xe ngựa chở thi thể cô gái về vùng núi Tô suốt 2 ngày 1 đêm. Khi chiếc xe ngựa đưa linh cữu vừa rẽ vào con đường mòn chân núi thì gặp một ông già râu dài đứng chống gậy ven đường ngoắc lại. Ông già cho biết đang đón đệ tử vào núi tu.

Lấy làm lạ trước sự trùng hợp với lời trăng trối của người chết, gia đình dừng xe. Ông già bảo mọi người đưa thi thể cô gái vào hang núi. Ông già dùng nước ngải đổ vào miệng xác chết thì cô gái… bật ngồi dậy. Vừa trông thấy ông già, cô gái quỳ sụp xuống lạy. Hóa ra, đó là ông già trong giấc mơ của cô gái trước khi chết. Từ đó, cô gái ở lại hang đá làm truyền nhân của Tà Pi.

Hiện nay, một số gia đình Khmer, Hoa vẫn thường gọi tên Tà Pi khi khấn vái, khẩn cầu trong các lễ cúng giải hạn, giải tai ương, tật bệnh.

Di tích hang ông Cồ Tu Tiên

Những giai thoại nhuốm màu sắc huyền bí về Tà Pi được rất nhiều người Khmer, Hoa khẳng định là hoàn toàn có thật. Lần theo giai thoại, chúng tôi về Tri Tôn để tìm sự thật.

Nơi Tà Pi đã từng tu luyện phép tiên cho thuốc cứu người thuở xưa là một hang đá nằm ven chân núi Tô thuộc xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Người đời sau đã cất một ngôi chùa bao trùm lấy chiếc hang. Vì vậy ngôi chùa có tên là chùa Hang. Người Kinh gọi hang đá của Tà Pi đã từng trú ngụ là hang ông Cồ hoặc ông Tiên Hai.

Ngôi chùa trông giống như một ngôi nhà cấp 4, mái tôn gỉ sét, cũ kỹ nằm cạnh một khối đá to, cao. Gọi là chùa nhưng cách bài trí các bàn thờ như một ngôi miếu thần. Phía trước ngôi chùa là một cái miễu thờ ngũ vị nương nương của người Khmer gồm: bà Kha Mau, Dì So, bà Prey Yeng, Dì Sroc, bà Neskong.

Mộ ông Cồ.

Gian hậu liêu chùa có 3 ngôi mộ của những người thủ từ đời trước gồm: bà Mai Thị Hui, ông Trương Thanh Ngộ và bà Mai Thị Y.

Phía sau gian hậu liêu là lối xuống hang đá nơi ông Cồ từng sinh sống. Lối vào lòng hang hẹp vừa đủ một người chui lọt. Lòng hang sâu khoảng 50 mét được chia làm 3 gian, cách nhau bởi những khe hẹp giống như cửa hang. Trong lòng hang có 17 bệ thờ các vị tiên, đẳng thần như: Mẹ Mâu (bà Kha Mau), chư vị Sơn Thần, trăm quan đại thần, "mẹ" Quán Âm Nam Hải, Chánh Sát Đại Càn, Vạn Ban Ngũ Hành… Những bệ thờ đó chứng minh ông Cồ thuộc tín ngưỡng đa thần, tức hệ phái Tu Tiên. Bà Ba thủ từ cho biết, ngày xưa ông Cồ sử dụng những tảng đá to làm bệ thờ. Những người thủ từ sau này dùng xi măng xây bệ thờ cho sạch sẽ, khang trang.

Tu Tiên là một hệ phái do người Việt (bao gồm Kinh, Khmer và Hoa) sáng lập và phát triển mạnh vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX ở vùng Tầm Phong Long. Người theo trường phái này quan niệm rằng, tại trần thế con người có thể tu luyện thành tiên, sống trường thọ, cưỡi gió mây chu du khắp cõi thượng. Sau này, do ảnh hưởng giao thoa văn hóa từ nhiều luồng tín ngưỡng đa thần khác, phái Tu Tiên chuyển dần thành các môn phái bùa chú như: Năm Ông, Chà Kha, Pà Li, Lục Lèo… --PageBreak--

Một nhánh khác của phái Tu Tiên chuyển hóa thành phái Tiên Thiên Tuyệt Cốc xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX và tuyệt tích vào giữa thế kỷ XX. Người theo phái Tiên Thiên Tuyệt Cốc không ăn 5 loại ngũ cốc, không ăn thịt động vật, hằng ngày ngồi thiền luyện thần và leo núi luyện thể.

Theo giai thoại, người luyện thể đạt cấp cao có thể chạy trên mặt nước, đi trên ngọn cỏ, các loài thú dữ trong rừng gặp mặt phải mọp mình kính cẩn. Ngoài ra, người theo phái Tiên Thiên Tuyệt Cốc còn dùng các loại thảo dược luyện linh đan để giúp con người sống trường thọ.

Nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ, cố tác giả Huỳnh Minh đã từng viết rất nhiều tập sách khảo cứu miền Nam. Trong những bộ sách khảo cứu, ông đã từng nhắc đến phái Tiên Thiên Tuyệt Cốc. Ông nêu lý do phái này tuyệt tích là do "tín đồ mất niềm tin vào phương pháp tu luyện".

Bà Ba - người trông coi chùa Hang, đã hơn 70 tuổi, lắc đầu khi được hỏi về thân thế ông Cồ: "Chuyện xảy ra từ mấy đời trước nên bây giờ không ai biết ổng là ai đâu. Những người giữ chùa trước tôi kể lại rằng, ông Cồ rất kín tiếng, kiệm lời, không bao giờ nói với ai mình tên gì, theo tôn giáo nào, quê quán ở đâu hoặc vì sao đi tu. Khi tôi về đây hương khói thì đã thấy nguyên trạng ngôi chùa như vầy và nghe người ta gọi ổng là ông Cồ. Ông sống 103 tuổi và viên tịch vào năm 1903. Mộ ông Cồ nằm sau chùa. Khi ông qua đời, theo lời trăng trối của ông, người ta không đưa thi thể ông vào quan tài mà chôn thẳng xuống huyệt mộ".

Chúng tôi men theo vách đá đi vòng ra phía khoảng vườn sau của ngôi chùa. Ngôi mộ ông Cồ nằm lẻ loi đơn độc dưới chân vách núi có ghi rõ ngày qua đời là 25/11 âm lịch tức ngày 20/12/1903.

Giai thoại thu phục cọp dữ

Bà Ba kể rằng, ngày ông còn sống, trên núi có một bầy cọp. Lúc đầu, bầy cọp này là nỗi kinh sợ của người dân quanh vùng. Thỉnh thoảng, người ta nghe tiếng cọp "um" là biết có người vừa bị cọp vồ. Nghe người dân ta thán, ông Cồ đi tìm bầy cọp dữ. Sau nhiều ngày đi khắp các mỏm núi, ông Cồ cũng tìm được cái hang cọp nằm trên đỉnh núi bên cạnh. Đó là một gia đình có đủ cọp cha, mẹ và 5 cọp con.

Không hiểu ông thu phục bằng cách nào mà từ đó trở về sau, hàng đêm bầy cọp đều xuống nằm phủ phục quanh hang nghe ông Cồ đọc kinh thuyết pháp. Chúng cũng không còn bắt người ăn thịt. Bẵng một thời gian khá lâu, người đi rừng phát hiện bầy cọp đã chết rũ trong hang. Người ta đoán rằng, vì không ăn thịt, chúng đã chết đói trong hang để được ông Cồ hóa kiếp. Ngày nay, di tích hang cọp rũ vẫn còn trên núi Tô.

Cuối hang.

Về giai thoại trị bệnh cứu người, bà Ba cho biết, ngày còn sống ông Cồ luyện được rất nhiều bài thuốc nam chữa bệnh rất linh nghiệm cứu được rất nhiều người ở khắp vùng xa gần. Bà Mai Thị Hui được ông cứu sống đã nguyện ở lại làm con nuôi ông Cồ. Tuy là truyền nhân duy nhất nhưng bà Hui không được ông Cồ truyền phép Tu Tiên mà chỉ truyền phép trị bệnh. Khi ông viên tịch, bà Hui trở thành người kế thừa trị bệnh cứu người.

Vào khoảng năm 1928, bà Hui trị bệnh cứu sống một bé gái ở Trà Vinh do gia đình mang đến. Khi đến nơi, bé gái như người đã chết. Cũng như cha nuôi, bà Hui giã củ ngải mớm cho nạn nhân. Sau khi nuốt ngải, bé gái dần tỉnh lại, mấy ngày sau thì khỏe hẳn.

Để tạ ơn, gia đình cho bé gái nhận bà Hui làm mẹ nuôi. Bé gái được bà Hui đặt tên là Mai Thị Y và truyền y thuật trị bệnh.

Sau khi bà Hui qua đời, bà Mai Thị Y tiếp tục kế thừa bà Hui làm thuốc trị bệnh cứu người. Bà Y cho xây sửa lại hang tu của sư tổ là ông Cồ và cất ngôi chùa lấy tên là chùa Hang.

Lúc bà Y còn tại thế, bà Ba mắc chứng bệnh nan y đã đến đây trị bệnh. Sau khi dứt bệnh, bà Ba phát tâm nguyện hiến thân cho chùa và trở thành người thủ từ kế thừa sau khi bà Y qua đời vào năm 1988. Hầu như bà Y không truyền lại cho bà Ba bất cứ một phương thuật mầu nhiệm nào để trị bệnh. Hiện, bà Ba cũng bốc thuốc nam nhưng chỉ điều trị một vài bệnh thông thường. Bà Ba tiếc rằng, sư tổ đã không để lại bất cứ thư tịch, bí kíp nào về những món thuốc tiên cho hậu thế sử dụng.

Nhân vật, ông Cồ tu luyện phép tiên hoàn toàn có thật. Tuy nhiên, ông có trở thành tiên sau khi viên tịch hay không chỉ có… trời biết. Dù sao đi nữa, di tích hang ông Cồ là một bằng chứng về văn hóa tâm linh, văn hóa tín ngưỡng thuở sơ khai mở cõi của lưu dân Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Những giai thoại mầu nhiệm liên quan đến ông, nếu loại bỏ yếu tố tâm linh sẽ trở thành một di sản văn hóa phi vật thể cần lưu giữ để các thế hệ kế thừa hiểu được thuở sơ khai, người Việt đã đấu tranh sinh tồn ở vùng đất mới khai hoang như thế nào

Nông Huyền Sơn
.
.
.