Chuyện nhà nữ toán học đầu tiên ở Việt Nam:

Góc khuất của... nghề?

Thứ Hai, 17/08/2009, 16:55
Ngẫm về chuyên ngành của mình, GS - TS. Hoàng Xuân Sính bộc bạch: Tưởng chỉ có văn, chứ toán cũng thế. Có nhiều hành trình để tới đáp số. Nhưng nếu hành trình đó không đúng đáp án mà đáp số vẫn đúng thì học sinh cũng sẽ "chết"...

Trong những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Trường đại học Sư phạm Hà Nội đóng tại Cầu Giấy, lớp học đơn sơ là những ngôi nhà tranh vách đất. Giảng dạy tại Hà Nội ít lâu, khi đế quốc Mỹ chính thức tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, từ tháng 2/1965, lớp học của cô Sính cũng phải sơ tán ra huyện Ứng Hòa - Hà Tây, nơi có dòng sông Đáy uốn khúc quanh co.

Cuộc chiến tranh bằng không quân phá hoại miền Bắc ngày càng mở rộng, nên lớp học thường xuyên phải di chuyển địa điểm, khi ở đồng bằng, lúc lại lên trung du. Ở nơi học mới, tối cô và trò phải mất 3 ngày để dựng lên một lớp học với sức chứa 50 học sinh. Lớp học là ngôi nhà được lợp bằng lá cọ, đóng cọc bằng tre vào nền đất.

Đến giờ cô vẫn băn khoăn mãi: Ngày đó, khổ là vậy, cả thầy lẫn trò đói quanh năm, chẳng có ăn sáng, bữa trưa quen thuộc cơm độn khoai hay sắn, thức ăn chỉ có canh rau muống luộc hoặc canh su hào cho tí mỳ chính. Nhưng với cô, sinh viên thật tuyệt vời, ai học cũng giỏi, lớp học im phăng phắc, chăm chú nghe cô giảng bài. Cô Sính canh cánh nỗi lòng, sau này mỗi lần họp lớp cô hỏi các sinh viên của mình thời đi sơ tán: "Đói khổ như vậy, sao các em học giỏi thế, thông minh thế?!". Trò lại lễ phép thưa: "Hồi đó ở trong làng sống nhờ nhà dân, ngoài lên lớp ra là về nhà học bài, chứ tuyệt nhiên không có gì khác...".

Cũng trong quãng thời gian đi sơ tán, cô Sính đã làm một việc khiến các nhà nghiên cứu khoa học nước ngoài kính nể và nhiều người cảm phục. Đó là cô đã hoàn thành bản luận văn để sau này lấy bằng "Tiến sĩ quốc gia" ở Đại học Paris 7, để trở thành nữ GS-TS toán học đầu tiên của Việt Nam.

Chẳng rõ có phải GS - TS, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Xuân Sính là người phụ nữ nước ngoài đầu tiên đặt chân đến Paris để lấy tấm bằng "Tiến sĩ quốc gia" về chuyên ngành toán học hay không?! Nhưng trong suốt quá trình đến Paris để chuẩn bị bảo vệ bắt đầu từ tháng 8/1974 và kết thúc vào tháng 5/1975, cô Sính là người phụ nữ duy nhất đã chọn chuyên ngành hóc búa - toán học để làm luận án, và cô đến từ một đất nước đang có chiến tranh ác liệt.

Tháng 8/1974, cô giảng viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội sang Paris ôm theo bản luận án đã làm trong những tháng ngày sơ tán để lấy bằng "Tiến sĩ quốc gia". Hội đồng chấm luận án là những giáo sư ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam chống Mỹ. Thời đó, ở Pháp có quy định ngoài bản luận án đã làm, thí sinh còn phải làm bản luận án thứ hai. Và luận án thứ hai phải nằm ở một lĩnh vực khác hoàn toàn với bản luận án thứ nhất, mục đích để đánh giá trong một năm thí sinh có khả năng nhanh chóng thâm nhập vào một lĩnh vực khác hay không?! Có như vậy, hội đồng chấm luận án mới ghi vào bảng đánh giá mấy chữ: Có khả năng giảng dạy đại học.

Khỏi phải nói đã thấy sự thua thiệt của cô Sính đến thế nào. Vì ở các nước, người làm công tác khoa học chỉ việc chuyên tâm vào việc nghiên cứu, không phải phân tâm và mất thời gian để làm bất kỳ việc gì khác. Nhưng với cô Sính, trong điều kiện đất nước đang chiến tranh, sống những ngày sơ tán, không có thư viện, không có thầy, thậm chí hạn chế bạn để trao đổi, tách biệt hoàn toàn với thế giới khoa học. Lại nữa, cuộc sống thiếu thốn gian khổ trăm bề. Công việc choán từ sáng sớm cho đến nửa khuya, bởi vì cô còn phải làm đầy đủ chức phận của một người dạy học. Khi ánh chiều trong ngày tắt là lúc cô ngồi vào bàn giở giáo án, chuẩn bị bài giảng cho hôm sau và chấm bài cho sinh viên.

Thật cũng kỳ lạ, trong thời gian làm luận án, cô không nghỉ dù chỉ một ngày. Ngày nào cũng vậy, đợi đến khi xong công việc của một nhà giáo thì kim đồng hồ cũng vừa vặn chỉ 9 giờ tối. Cô Sính lặng lẽ chui vào màn để tránh muỗi, miệt mài làm luận án bên ngọn đèn dầu leo lét sáng. Lúc đó, cô thầm ao ước có được một cây đèn nhỏ chạy bằng pin để thay cái ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu. Vậy mà, điều mong muốn giản dị ấy cũng không thể thực hiện được.

Với sự nỗ lực khôn cùng cô đã thành công. Năm 1975, với tấm bằng GS-TS Toán học bảo vệ tại Paris, cô đã quay trở về nước, về với mái trường xưa, Đại học Sư phạm Hà Nội, tiếp tục cuộc hành trình, đứng trên bục giảng.

Người ta thường hình dung về nữ khoa học trong ngành toán là người khô khan, cứng nhắc. Nhưng với ai đã từng một lần tiếp xúc với cô Sính thì thấy rõ, nhận thức đấy đã hoàn toàn sai lệch. Cô là người tinh tế, giản dị...

Suốt cả thời con gái cho đến tận giờ, cô Sính vẫn không nguôi nỗi nhớ thương bà nội. Năm cô lên 8 mẹ đẻ mất, chỉ hai tháng sau bà nội ốm rồi qua đời. Một năm phải chịu hai cái tang của những người ruột thịt, thân yêu nhất, bé Sính hẫng hụt và thấy trống vắng vô cùng... Trong tâm hồn non nớt ngây thơ, hình ảnh của người bà hiện lên thật dịu dàng. Bà nội cô sinh ra từ một gia đình làm nông tại Từ Liêm - Hà Nội. Năm bà vừa bước sang tuổi 13 là lúc nhà trai đến đón về làm dâu. Xã hội phong kiến đã đày đọa tấm thân mảnh dẻ chưa kịp đến tuổi lớn đã phải sống cuộc sống của người trưởng thành nuôi gia đình.

Ngày ngày, bà nội gánh rau đi bán từ ngôi làng này sang ngôi làng khác, dáng người gầy guộc in bóng xuống con đường đất dài hun hút gió. Mùa nào thức nấy, những bó rau xanh trong rổ kẽo kẹt trên tấm lưng mảnh dẻ của bà, oằn xuống...

Sau ngày cô về nước, năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ tết đến xuân về, khi các gia đình tụ họp quây quần bên nhau, là lúc cô Sính lại nhớ da diết về người bà đã mất của mình. Một mình, cô lững thững đi bộ ra chợ tết, khắc khoải tìm về hình ảnh của người bà khi xưa, ngồi thu mình bé nhỏ bên mẹt rau xanh dưới giá lạnh của ngày đông giáp tết. Nhiều lần, cô Sính đã vét sạch những đồng xu cuối cùng để mua cả mẹt rau, chỉ vì khi nhìn những bà cụ già bên gánh rau xanh cô lại tìm thấy hình ảnh của nội. Có lúc cô cứ nghĩ đấy chính là bà của mình. Cô thương nội lắm.

Trong con người cô Sính đan xen một góc khuất của những bồng bềnh, lãng mạn và một góc sáng, dữ dội dành chỗ cho tư duy khoa học, logic. Từ lúc tôi gặp cô, chuyện mà cô muốn đề cập nhất chính là những bức bách về vấn đề giáo dục mà ngày đêm cô trăn trở. Nói về giáo dục, cô trở nên sôi nổi hẳn. Cô bảo: "Chả hiểu sao có mỗi chuyện có nên đưa ngoại ngữ vào bậc tiểu học hay không mà cứ thảo luận đi, thảo luận  mãi đến giờ vẫn chưa tìm ra câu trả lời?".--PageBreak--

Cô Sính thấy kỳ lạ và không thể hiểu nổi, cô đã học qua mấy chế độ, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ cách mạng giành thắng lợi, và ngay kể cả sang nước Pháp hiện đại. Chương trình giáo dục khi xưa không thể nói là nhẹ. Khi cô lên 5 tuổi, vào lớp 1, vừa mới đọc và viết được tiếng Việt là lúc học tiếp tiếng Pháp, rồi lại học cả tiếng Anh.

Ngày đó, làm các bài kiểm tra dù là tiếng Việt, tiếng Pháp, hay tiếng Anh đều được điểm cao. Tất cả, các môn ngoại ngữ học nhẹ nhàng như không, chứ đâu phải đánh vật như trẻ em bây giờ. Thời đó, học sinh không biết thế nào là học thêm, cũng không phân biệt giàu nghèo. Trẻ em gia đình bán hàng nước được đi học thì ngoại ngữ cũng rất khá. Vậy do đâu và vì sao, trẻ bây giờ học ngoại ngữ hàng năm trời chẳng nhớ nổi lấy một câu, nghe Tây nói mà cứ ú a ú ớ như vịt nghe sấm?!

Cô Sính bảo tất cả là do vấn đề chấm bài. Cô hồi tưởng lại: Ngày còn  đi học, cô Sính chỉ chuyên tâm học toán, có đọc bài văn mẫu nào đâu. Và tính cô cũng không thích bó buộc, đến khi làm các bài văn bằng tiếng Pháp, bài văn của cô cảm thụ khác với người khác, nhưng đọc lên thấy có lý thì người thầy vẫn cho điểm. Vì hồi đó không có khuôn mẫu về đáp án. Học sinh làm bài kiểm tra không sai văn phạm, không sai chính tả sẽ được điểm.

Cô sốt sắng nói: "Bây giờ vừa dễ lại vừa khó, làm bài phải giống như trong đáp án. Và dễ nếu như làm giống đáp án sẽ được điểm cao. Như môn văn là phải giống bài văn mẫu".

Cô kể cho tôi nghe một câu chuyện có thật mà rất khôi hài. Chuyện xảy ra cách đây mấy năm.

Một hôm, Hoàng Xuân Sính phát biểu ở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vấn đề giáo dục. Cháu nội cô (đang là học sinh trung học) nhờ cô hướng dẫn làm một bài làm văn. Sau khi hai bà cháu nghiên cứu một cách thật kỹ lưỡng, cô Sính viết sườn bài để cháu gái theo đó chép vào và phát triển lên. Sau khi đọc lại bài văn, cả hai bà cháu đều rất ưng ý. Hôm sau, cô Sính mang bài văn vào Trường đại học Sư phạm, các thầy toàn những giáo sư đầu ngành sư phạm sau khi đọc bài văn nắc nỏm khen: "Con bé khá quá!". Còn cô Sính thì chắc mẩm, cô cháu gái sẽ được điểm cao.

Mấy hôm sau, cô bé về mặt tiu nghỉu bảo với bà: "Cháu buồn lắm! Lần sau không nhờ bà nữa". Cô Sính ngạc nhiên hỏi, cô bé rầu rĩ: "Cô giáo bảo bài này không thể cho điểm được''. Được biết, cô giáo dạy văn không đánh giá thấp bài văn, nhưng bài văn đó đã không có điểm chỉ bởi không giống đáp án nên không thể nào cho điểm được.

Sau khi cô Sính vừa dứt lời thì Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Văn Đạo đứng lên bảo: "Chuyện của chị không hay bằng chuyện của tôi". Ông kể: Cháu ngoại của nhà thơ Tố Hữu nhờ ông làm hộ bài văn bình thơ Tố Hữu; kết quả  được 2 điểm khi bình thơ Tố Hữu.

Cô Sính đem hai câu chuyện trên kể cho một người bạn đồng nghiệp ở trong Nam. Người bạn cười: "Hai chuyện đó cũng giống như chuyện cháu của nhà văn Nguyễn Khải nhờ ông làm bài bình văn Nguyễn Khải và bài văn đó đã nhận được lời phê của cô: Em không hiểu ý tác giả''.

Cô Sính quay sang bảo tôi: "Thế em có thấy được điểm là rất khó không? Cái khó của học sinh là phải làm thế nào để cho đúng đáp án. Mà chính để cho đúng đáp án nên mới nảy ra chuyện dạy thêm, học thêm".

Tiếp tục cô nói: "Học sinh phổ thông vừa mới thi xong. Nhiều em học lớp chuyên văn mà bài thi văn chỉ được có 5 điểm. Tôi nghĩ, chắc là lại làm không đúng đáp án rồi".

Xem chừng cô bức xúc lắm, vì theo cô, cứ bắt học sinh làm đúng như đáp án không những làm thui chột cả một thế hệ học sinh, sinh viên mà cả bộ máy guồng quay sẽ trở nên xộc xệch. Để giải quyết vấn đề này, cô Sính đã từng kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo: Bộ không nên áp đặt đáp án để cho thầy được tự do. Nhưng muốn để cho thầy tự do thì người thầy trong chuyên môn phải thật giỏi. Chính vì Bộ thấy thầy còn yếu nên mới áp đặt đáp án gây cho người học bao sự vất vả.

Ngẫm về chuyên ngành của mình cô bộc bạch: Tưởng chỉ có văn, chứ toán cũng thế. Có nhiều hành trình để tới đáp số. Nhưng nếu hành trình đó không đúng đáp án mà đáp số vẫn đúng thì học sinh cũng sẽ "chết".

"Không được chệch ra đường ray nên học trò khổ lắm. Học trò luôn luôn sợ hãi, thường trực một câu hỏi: "Liệu mình làm thế này có đúng không nhỉ?". Và, mất hẳn đi sự tự tin, không bao giờ dám khẳng định là mình đúng".

Cô cũng đã từng day dứt về vấn đề lương bổng của giáo viên. Tại sao cho đến giờ lương của người thầy vẫn thấp đến thế?! Cô lại nhớ về thời xưa, ngày còn thơ bé tới trường, lương của một nhà giáo có thể nuôi được cả nhà 3, 4 miệng ăn sung túc đủ đầy. Còn giờ đây, đồng lương của giáo viên eo hẹp là vậy... nên người thầy bị phân tâm, lo nghĩ đến chuyện cơm áo gạo tiền. Và cũng chính bởi lương thấp nên đã sinh ra lắm chuyện tiêu cực, gây tai tiếng cho ngành giáo dục.

Say sưa nói về nghề, về những phương thức áp dụng trong sự nghiệp trồng người, cô thổ lộ: Đại trà hóa giáo dục gây khó khăn cho toàn thế giới. Khi con người sinh ra, có người khỏe mạnh, có người què quặt, có người thông minh tuyệt vời, lại có người thiểu năng. Ngay trong một lớp học đã có sự bất công của thiên nhiên, đấy là chưa nói đến sự bất công của xã hội. Ngay kể cả thế giới đã đến độ bình đẳng, nhưng thiên nhiên vẫn mãi bất bình đẳng ngay từ khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời.

Bây giờ Nhà nước ta đang mong muốn đại trà đại học, vì đã làm cho xã hội cảm thấy rằng không học đại học thì khó có nghề nào kiếm sống đủ nuôi thân. Vậy làm thế nào cho toàn lớp đỗ được?! Đó là vấn đề hoàn toàn không dễ giải quyết

Trần Mỹ Hiền
.
.
.