Giữa La Habana nhớ về Hà Nội
Nhân ngày Quốc khánh lần thứ 50 của Cuba, chúng tôi đã đến thăm một người bạn Cuba… ông tên là Bernabé Mabauel Mesa Arias.
Tôi cùng anh Đặng Dũng, Tham tán văn hóa của Sứ quán Việt
![]() |
| Thủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh lưu niệm với một đoàn chuyên gia Cuba năm 1974. |
Nhà ông ở trên tầng hai và có ba phòng. Một phòng khách, hai phòng ngủ và một chỗ để nấu ăn. Tiếng là lắm phòng nhưng tổng diện tích chắc chỉ hơn 40m. Nhìn nhà ông, ngẫm lại ngày xưa thời bao cấp, phải là cán bộ cỡ khá lắm mới được căn nhà tương tự thế này.
Giữa phòng khách của ông có một chiếc xe đạp, mà dóng ngang được bọc cao su cẩn thận. Chiếc xe nom già nua lắm rồi, nhưng rất sạch sẽ. Nhìn chiếc xe của ông đặt chĩnh chện trong phòng, tôi thấy sao mà giống Việt
Bỗng dưng tôi thầm nghĩ: Không hiểu
Tại La Habana có một Hội những người chơi xe cổ. Có 417 chiếc xe cổ của tư nhân được đưa vào danh mục Nhà nước quản lý. Là chủ những chiếc xe, nhưng không phải ai muốn làm gì thì làm! Muốn thay một con vít, một con bulong, hoặc sơn chấm sửa chỗ nào đó, đều phải xin phép và có Hội đồng kỹ thuật duyệt.
Hàng tuần, vào ngày Chủ nhật, từ 8h30' là cuộc diễu hành xe cổ bắt đầu. Hàng trăm chiếc xe nối đuôi nhau chạy trên những đường phố chính ở La Habana. Có những chiếc xe sản xuất từ năm 1915 và đến bây giờ không hiểu người ta làm thế nào mà xe vẫn chạy ngon lành.
Một điều đặc biệt nữa là những chiếc xe này động cơ phải được giữ nguyên bản. Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn vậy mà những người thợ
Có khách Việt
![]() |
| Ông Bernabé và phóng viên ANTG. |
Với giọng buồn buồn vì nhớ lại ngày xưa, ông kể cho chúng tôi nghe về những ngày ông ở Việt
Từ năm 1971 đến 1982, có 1.570 cán bộ, công nhân kỹ thuật sang giúp Việt Nam xây dựng các công trình dân sinh và kinh tế như Trại gà giống Mộc Châu, Trại gà Tam Đảo, Bệnh viện Đồng Hới, Khách sạn Thắng Lợi, đường Xuân Mai - Hòa Lạc. Các chuyên gia Cuba đã đào tạo nghề cho 6.000 công nhân kỹ thuật Việt Nam.
Năm 1974,
Ông Bernabé đến Việt
Người phiên dịch cho ông là một sinh viên Việt
Nhắc đến 4 cô gái, ông nói với giọng bùi ngùi: "Bây giờ không biết các cô ấy như thế nào? Chắc họ cũng trở thành bà nội, bà ngoại cả rồi. Mà sao tôi lại quên mất tên của họ nhỉ?". Rồi ông thật thà thú nhận: "Trong 4 cô gái có 1 cô tôi mê lắm... mà hình như cô ấy cũng có cảm tình với tôi. Nhưng ngày ấy, việc quan hệ nam nữ giữa chuyên gia và con gái Việt
Hàng tuần, ông được về Hà Nội vào chiều thứ bảy và được ở một phòng tại khách sạn Kim Liên. Sang năm 1972, ông được cấp một chiếc xe đạp Phượng Hoàng của Trung Quốc và thế là cứ đến chiều thứ bảy, ông lại "túc tắc" đạp xe vượt quãng đường ngót 60 cây số về Hà Nội. Tới khách sạn, việc đầu tiên của ông là... bật quạt trần rồi nằm vật ra... Nhưng có phải ngày nào cũng có điện đâu. Mùa hè, nếu mất điện thì ở Hà Nội khổ hơn trên Tam Đảo nhiều.
Ngày ấy, mặc dù kinh tế rất khó khăn, nhưng vì là chuyên gia quốc tế, cho nên ông cũng được cung cấp lương thực, thực phẩm khá thoải mái. Bữa cơm nào cũng có 4 món trong đó có 2 món thịt, hoặc trứng.
![]() |
| Quang cảnh trại gà Tam Đảo đang xây dựng năm 1972. |
Điều làm ông rất áy náy là tuy khi ông được ăn cơm trắng, thức ăn thoải mái... thì những cán bộ và công nhân ở trại gà hầu như quanh năm ăn cơm độn mì, độn ngô, thậm chí là cả khoai lang. Thức ăn thì chủ yếu là rau, còn nếu có thịt, hoặc cá thì thường một mâm 6 người ăn, chỉ được khoảng 2 lạng thịt lợn rang mặn. Ngày thì làm quần quật, ăn uống lại kham khổ, nhưng tối nào cũng có sinh hoạt văn nghệ. Ông vẫn còn nhớ một khẩu hiệu ở trong hội trường "Tiếng hát át tiếng bom".
Vào tháng 5/1972, Mỹ mở rộng đánh phá miền Bắc với cường độ ác liệt hơn trước. Vì nông trại gà ở gần sân bay Nội Bài nên chẳng mấy ngày là ông không được chứng kiến cảnh máy bay Mỹ đánh phá sân bay. Công nhân ở trại gà cũng được phát súng trường mà chủ yếu là loại K44 hoặc K63.
Một buổi chiều thứ bảy, ông đạp xe từ nông trường về Hà Nội. Khi đến gần thị xã Phúc Yên thì máy bay Mỹ lao đến ném bom vào sân bay Nội Bài và một trạm biến thế điện gần đó. Đang đi trên đường, thấy một hầm cá nhân có nắp, ông vội vứt xe đạp vào một lùm cây rồi chạy đến nhấc nắp hầm ra.
Nhưng khi nhìn xuống thì thấy dưới đó đã có người. Thế là ông đành đậy lại và ra ngồi ở dưới gốc cây. Tiếng bom nổ mỗi lúc một gần. Đất trời rung chuyển vì bom nổ. Các trận địa cao xạ quanh sân bay nổ súng đánh trả quyết liệt... Ông Bernabé rất sợ nhưng cũng chỉ còn biết chụp chiếc mũ cối lên đầu và ngồi dựa vào gốc cây, cách hầm cá nhân chỉ 2m.
Chợt ông thấy nắp hầm động đậy rồi người đàn ông ở dưới hầm nhô lên, và nói rất to. Chả biết anh ta nói gì, nhưng ông Bernabé chỉ vào ngực mình và nói: "
Ông Bernabé thấy thế cũng không chịu. Ông nhảy lên khỏi hầm rồi lôi anh ta lại và đẩy anh xuống hầm. Anh cũng không chịu, lại lao lên và đẩy ông xuống. Thế rồi một người nói tiếng Việt, một người nói tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ bất đồng, nhưng cả hai đều nói liến thoắng, cốt sao cho người kia nghe mình và chịu xuống hầm.
Ủn, đẩy ông Bernabé mấy lần không được, thế là người đàn ông đó cũng lên ngồi cạnh ông dưới gốc cây. Anh chỉ cho ông đàn vịt đang bình thản mò mẫm ở một con mương gần đó. Ông hiểu anh nói rằng anh làm nghề chăn vịt. Cả hai ngồi dựa vào nhau nhìn về phía sân bay Nội Bài đang bị khói lửa trùm lên. Có một máy bay Mỹ bị pháo cao xạ bắn trúng bốc cháy, người đàn ông nhảy cẫng lên, tung mũ lên trời và hét to "cháy rồi... cháy rồi".
Thấy có mảnh đạn rơi xung quanh, anh lấy chiếc mũ rơm của mình đội lên đầu cho ông, còn mình thì lại đội chiếc mũ cối... Rồi lại một chiếc máy bay nữa bị cháy. Trên bầu trời xuất hiện một chiếc dù trắng. Người đàn ông hét lên: "Phi công rơi"... Rồi anh ta nhặt cây gậy chăn vịt và lao chạy về phía chiếc dù đang rơi chầm chậm. Chạy được một đoạn, bỗng anh quay trở lại và đổi lại chiếc mũ, rồi anh nhoẻn miệng cười, nói "
Cho đến giờ, mặc dù đã hàng chục năm trôi qua nhưng ông Bernabé vẫn không thể nào quên được gương mặt khắc khổ và đôi mắt rực sáng của người đàn ông ấy.
Nhắc lại chuyện cũ, ông rơm rớm nước mắt. Rồi ông bảo: "Những năm ở Việt
Năm 2000, ông được mời sang thăm Việt



