Có một “ông vua” trên đỉnh Lủng Cẩu? (kỳ 2)
Bên trong ngôi miếu khá đơn sơ, gồm 3 ban thờ bằng đất, một ban thờ chính, hai ban thờ phụ. Ban thờ chính có 3 bát hương, 15 chiếc chén xếp ngay ngắn thẳng hàng. Ban thờ phụ có cây nến cổ bằng đồng, một số chum, niêu vỡ. Đáng chú ý là giữa nền nhà bằng đất có một phiến đá, vuông vắn, vẫn còn dấu vết đục đẽo.
Theo các lãnh đạo xã Bản Díu, xưa kia, ngôi đền khá khang trang, tường xây bằng gạch nung to như gạch xỉ rất vững chãi, nền lát đá xanh, nhưng chiến tranh, bom đạn đã phá nát. Một số đối tượng tìm vàng bạc, đồ cổ đã xới tung cả khu đền lên.
Sau này, nhân dân làm lại bằng tường trình đất trên nền cũ, nhưng làm bé hơn nhiều. Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng 3 âm lịch, chọn ngày đẹp, đại diện các dòng họ, dòng tộc La Chí tập hợp tại miếu thờ, mổ lợn gà, làm lễ cúng "vua" Gia Long rồi ăn uống luôn tại miếu.
Mấy năm trước, có bà chủ tên là Nguyễn Thị Kim Dung, đã vào miếu thắp hương khấn vái "vua" Gia Long, rồi ra mộ "vua" xúc một bao đất đem về thị trấn Xín Mần thờ. Bà làm ăn phát đạt, nên thành lập Công ty TNHH Gia Long, chuyên kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, xây dựng, cầu đường...
Bà chủ này cũng hứa với người La Chí ở đây rằng, khi nào làm ăn khấm khá, sẽ đầu tư xây dựng miếu thờ "vua" Gia Long khang trang, đàng hoàng hơn. Tuy nhiên, mấy năm nay ngôi miếu thờ vị "vua" bí ẩn này vẫn hiu quạnh như vậy.
![]() |
| Miếu thờ "vua" Gia Long tại xã Bản Díu (Xín Mần). |
Lại nói về chuyện mộ "vua" Gia Long, thật lắm điều huyễn hoặc. Người La Chí sống tập trung ở 4 xã, trong đó, xã Nàn Xỉn (Xín Mần) và Bản Phùng (Hoàng Su Phì) có 100% người La Chí, còn xã Bản Díu (Xín Mần) và xã Bản Máy (Hoàng Su Phì) chỉ có 63% và 50% người La Chí mà thôi.
Các bản làng La Chí đều nằm trên lưng phần cuối dãy Tây Côn Lĩnh. Họ ở cao hơn cả người Mông. Phần núi non trùng điệp này được người La Chí đặt tên là núi Hoàng Dìn Thùng.
Trong huyền thoại thì Hoàng Dìn Thùng là ông tổ của người La Chí. Ông chết đi, thân thể biến thành một dãy núi đất trùng điệp, trên đó, các bản làng La Chí sinh tụ. Đầu của ông sinh ra người anh cả ở Bản Díu, người con thứ hai sinh ra từ bụng là Bản Phùng và con út sinh ra từ hai chân là Bản Máy và Bản Pẳng.
Câu chuyện này nhằm chứng minh rằng, ông Hoàng Dìn Thùng là tổ tiên của người La Chí và người La Chí dù ở các bản làng khác nhau, nhưng đều là anh em ruột thịt.
Dãy núi đất hùng vĩ mà người La Chí đang sống chính là thân thể ông tổ họ. Hàng ngày, những lúc bình minh lên hay hoàng hôn xuống, vào những đêm trăng rằm sáng tỏ, người La Chí đều có thể ngắm nhìn, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của tổ tiên mình.
Các thế hệ được giáo dục bằng hình ảnh đẹp như thế, nên bao thế kỷ nay, họ yêu quê hương tha thiết và quyết bám đất, bám làng.
Tôi đã đi dọc các bản làng người La Chí để tìm hiểu về "vua" Gia Long và phát hiện ra rằng, trên khắp dãy Hoàng Dìn Thùng này đâu đâu cũng có mộ "vua". Ông "vua" thì chỉ có một, mà mộ thì có đến cả trăm. Những ngôi mộ là những gò đất tròn, to, nhẵn, khum khum như mai rùa.
Mỗi ngôi mộ rộng chừng 30m2, nằm trên bãi đất trống, rộng và thoáng. Gần ngôi mộ đều có những cây đa khổng lồ. Trông hình thù ngôi mộ không giống mô đất tự nhiên, mà có dấu hiệu tạo tác của con người.
Điều lạ nữa là phần nhiều những ngôi mộ này nằm trên một đường thẳng kéo dài từ xã Bản Díu, qua Bản Phùng, đến tận Bản Máy, dọc sống núi Hoàng Dìn Thùng. Các ngôi mộ phân bố trên một khoảng cách khá đều đặn.
Sự tích về những gò mộ liên quan đến "vua" Gia Long được người dân và lãnh đạo xã kể như sau: "Xưa kia, "vua" Gia Long cai quản cả một vùng La Chí rộng lớn. Núi đất, ruộng bậc thang nhiều, trâu bò đông đúc, gà vịt chạy khắp ruộng, sông suối, thú hoang đầy trong rừng. "Vua" có 5 bà vợ cùng 5 người con trai thông minh, tài giỏi.
Dinh thự của ông được xây dựng bằng đá, có tường thành bảo vệ, nằm trên đỉnh núi Gia Long, là nơi cao nhất, là trung tâm nơi ở của người La Chí, nơi ấy là chốn tiên cảnh. "Vua" thường vui đùa với các tiên nữ từ trên trời xuống hạ giới chơi.
Tuy nhiên, "vua" vẫn không quên 5 bà vợ của mình. Bà vợ cả sống cùng "vua" ở dinh thự, còn vợ hai sống ở Bản Phùng, vợ ba ở Nàn Xỉn, vợ thứ tư ở Bản Díu, còn vợ thứ năm ở Bản Máy. 5 người con sống với 5 người mẹ và họ được "vua" giao cho cai quản vùng đất mình sống. Thỉnh thoảng "vua" lại đi thăm vợ và ngắm cảnh, vui thú. Mỗi bà vợ đều có dinh thự riêng và quản lý dân cư trong vùng.
"Vua" Gia Long sống được 100 tuổi thì đổ bệnh. Bao nhiêu thuốc quý ở khắp nơi cung tiến cũng không chữa được bệnh hiểm nghèo. Biết mình không thể qua khỏi, "vua" Gia Long gọi các con lại và dặn dò: “Ta có rất nhiều vàng bạc, của cải để trong kho. Ta muốn mang về thế giới bên kia tiêu xài, nên khi ta chết đi, các con phải đem kho báu chôn với ta, nhưng phải bí mật, không được để kẻ khác biết”.
Khi "vua" Gia Long tắt thở, 5 người con liền huy động tất cả quân lính đi đào huyệt chôn "vua" cùng của cải. Mọi việc diễn ra rất bí mật, không người dân nào biết. Để của cải và thân thể "vua" an toàn, đám quân lính đã đào đắp hàng ngàn ngôi mộ, trên khắp bản làng La Chí, dọc núi Hoàng Dìn Thùng. Như vậy, sẽ không ai biết đâu là mộ thực, đâu là mộ giả để đào trộm tài sản.
Sau khi chôn "vua", đắp xong vô số mộ giả, 5 hoàng tử và quân lính kéo về dinh "vua" ăn nghỉ. Đồ ăn thức uống đã được 2 đầu bếp nấu sẵn, bày thành những bàn tiệc. Đám quân lính và hoàng tử liền giết 2 người đầu bếp để không lộ thông tin ra ngoài. Tuy nhiên, ăn tiệc xong thì cả 5 hoàng tử và đám quân lính cũng lăn ra chết vì trúng độc.--PageBreak--
Câu chuyện này đều được người La Chí ở 4 xã kể như nhau, nhưng phần kết luận thì khác một chút.
Ở Bản Díu thì cho rằng, hai người đầu bếp của "vua" Gia Long đã bỏ thuốc độc vào thức ăn, nhằm giết chết hoàng tử và đám lính để chiếm đoạt kho báu, vì họ biết nơi chôn giấu. Còn hoàng tử và đám lính thì giết chết đầu bếp để giữ kín thông tin và sau này sẽ chiếm đoạt kho báu chia nhau.
Còn người La Chí ở Bản Phùng thì cho rằng, đây là âm mưu thâm độc của "vua" Gia Long nhằm bảo vệ tài sản và nơi yên nghỉ của mình. Trước khi chết, ông đã dặn đàn con và đám lính phải giết hết những người biết thông tin về việc chôn giấu kho báu, trong đó phải giết cả hai người đầu bếp, nhưng mặt khác, ông lại dặn hai người đầu bếp phải đầu độc các con ông và lính tráng để thông tin về kho báu được bí mật. Và như vậy, thông tin về mộ phần cũng như kho báu của ông "vua" Gia Long bặt tăm kể từ khi ông mất.
Cũng có ý kiến của các cụ già La Chí cho rằng, không có vàng bạc, kho báu nào cả, chỉ đơn giản là "vua" không muốn cho con cháu đời sau biết nơi "vua" nằm để khai quật, nên trước khi chết, ông cho quân lính đắp thật nhiều mộ giả. Ông chết đi rồi, quân lính đem chôn ở ngôi mộ nào đó thật bí mật, không ai biết đến.
Tất cả những địa điểm ông từng ở, hiện tại đều có miếu thờ và vẫn còn vài ngôi mộ giả ở xung quanh. Các cán bộ xã, các cụ già trong bản đều không thể lý giải được vì sao những mô đất như những ngôi mộ này, qua mấy trăm năm mưa nắng mà không bị mài mòn. Trong khi, những nấm mộ của nhân dân ở cạnh, đắp lên, chỉ qua vài năm mưa nắng, nếu không có những chiếc sọ trâu đánh dấu thì đã bị xói mòn mất hút rồi.
Con cháu đời sau của người La Chí cũng bỏ công sức đào bới nhiều ngôi mộ nhưng không tìm thấy hài cốt cũng như kho báu của "vua" Gia Long. Rất nhiều câu chuyện hư hư thực thực về những cái chết bất đắc kỳ tử khi xâm phạm nơi yên nghỉ của vị "vua" này.
![]() |
| Bàn thờ "vua" La Chí. |
Chủ tịch xã Bản Díu Lù Thanh Phong kể rằng, năm 1960, có mấy người đào một ngôi mộ của "vua" Gia Long và thu được một số cổ vật, trong đó có 2 chiếc trống đồng, 1 chiếc trống đực và 1 chiếc trống cái màu đen tuyền cực đẹp. Dân bản bắt được liền tịch thu đôi trống.
Ông Phong bảo rằng, ông đã đi xem trống đồng trưng bày ở các bảo tàng dưới Hà Nội và thấy 2 chiếc trống này cũng lớn và đẹp tương tự. Hoa văn cũng có nhiều nét tương đồng, chỉ có điều nó được làm từ đồng đen.
Người La Chí coi 2 chiếc trống đó như tài sản mà "vua" Gia Long để lại. Không ai dám mang về mà đem giấu ở một chỗ bí mật trong khu đất là nền dinh thự tàn tích của "vua" trên đỉnh núi Gia Long.
Cứ hàng năm, vào tháng 3 âm lịch, chọn ngày đẹp, dân bản lại khiêng đôi trống về miếu thờ và đánh lên báo hiệu con cháu La Chí tụ tập dự lễ cúng "vua". Tuy nhiên, đến năm 1973, rộ lên phong trào buôn bán cái gọi là đồng đen, nên bọn trộm đã lên núi lấy mất đôi trống. Từ đó, trong lễ hội không có tiếng trống đồng nữa.
Một số ngôi mộ được đồng bào đào lên cũng thu được cổ vật, nhưng chỉ là những thứ vặt vãnh như bát đĩa, bình gốm... Còn ngôi mộ thật với kho vàng thì vẫn không thấy.
Chủ tịch xã Bản Díu, Lù Thanh Phong kể, năm 1997, một đoàn nhà khoa học dưới Hà Nội lên ở rất lâu trong các bản làng La Chí, thu thập thông tin về vị "vua" Gia Long, nhưng rồi họ bảo với ông rằng, thông tin về vị "vua" này ít quá, chưa đủ cứ liệu để xây dựng thành đề tài khoa học. Thế rồi, họ trở về mà không thấy viết dòng nào về vị "vua" người La Chí.
Cũng sau đó 2 năm, lại có một đoàn cán bộ trung ương lên khảo sát các địa điểm được coi là có liên quan đến "ông vua" này để mở tuyến du lịch. Tuy nhiên, họ cũng lại trở về với lý do công tác sưu tầm quá khó khăn, cứ liệu không đủ.
Cho đến hiện nay, tại Thư viện Quốc gia, mới có một tài liệu chính thức duy nhất nghiên cứu về dân tộc La Chí, đó là cuốn “Văn hóa truyền thống của người La Chí”, của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy.
Tuy nhiên, tài liệu không nhắc gì đến "vua" Gia Long, một "ông vua" không biết có thật hay không, nhưng nó lặn sâu vào tiềm thức của 8.000 người La Chí sống trên mảnh đất biên cương Hà Giang này. Cả cuốn sách 150 trang cũng chỉ có vài dòng rất sơ lược về ông tổ Hoàng Dìn Thùng mà thôi.
Trao đổi vấn đề này với TS Hoàng Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thông tin, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Sơn cũng khẳng định chưa nghe thấy nhà nghiên cứu nào nhắc đến "ông vua" Gia Long của người La Chí.
Bản thân TS Hoàng Sơn cũng chưa nghiên cứu về "ông vua" này, tuy nhiên, theo dự đoán của ông thì có thể đây không phải là một ông vua mà nhiều khả năng ông chỉ là vị vua do nhân dân yêu mến đặt cho.
Còn thực tế, có thể ông ta chỉ là một vị quan lại, bị thất thế trong chiến tranh loạn lạc, đã dẫn theo bộ tộc của mình di cư xuống phía nam khai phá. Ông này được nhân dân kính trọng, nên khi ông chết họ coi như ông tổ, gọi là vua của bộ tộc mình.
Cũng như người Pu Péo, khi thất thế, một vị quan đã đưa họ di cư đến đây sinh sống, rồi xây dựng dinh thự hoành tráng, toàn bằng đá xanh tại Củng Chá. 30 năm trước, do nhận thức thấp kém, một số người đã phá nát dinh thự, lật cả móng nhà lên để tìm vàng. Tất nhiên, vàng chả thấy đâu, nhưng một di tích tuyệt vời đã biến thành phế tích.
"Ông vua" Gia Long của người La Chí có thật hay không vẫn còn là vấn đề phải nghiên cứu kỹ. Có thể ông chỉ là một vị quan lại thất thế như TS Hoàng Sơn nhận định, nhưng ảnh hưởng của ông không lớn, quyền lực chỉ dừng lại ở bộ tộc La Chí, và sự xa xôi cũng như thời gian hàng trăm năm đã khiến ông bị lãng quên. Hoặc cũng có thể ông là một vị vua trong tưởng tượng của đồng bào La Chí.
Tên ông đã được đồng bào gắn với tên sông, tên núi. Câu chuyện về ông vẫn được người La Chí nơi đây kể lại nhiều. Do đó, không có lý do gì mà các nhà nghiên cứu yêu văn hóa dân tộc không bỏ thời gian cuốc bộ lên đó nghiên cứu xem thực hư như thế nào


