Chuyện ở Làng sinh đôi

Thứ Hai, 23/02/2009, 13:00
Làng sinh đôi có hơn 2.393 hộ dân, với gần 100 cặp song sinh. Riêng khu vực ấp Hưng Hiệp, với 535 hộ dân đã có gần 60 cặp song sinh. Hơn 5 năm về trước, làng sinh đôi gần như đã gây nên "cơn địa chấn" về truyền thông khi nhiều cơ quan thông tấn liên tục "xua quân" xuống làng cốt sao tìm được lý giải về hiện tượng sinh đôi đột biến ở nơi này.

Tuy nhiên, mọi việc chỉ dừng lại ở mức nghi ngờ nguyên nhân hoặc phỏng đoán. Chúng tôi cũng thế, sẽ chẳng có việc tìm lại làng sinh đôi để thực hiện một đề tài cũ rích nếu như chúng tôi không tình cờ phát hiện ra "câu chuyện cầu nước" từ một cặp vợ chồng đã lấy nhau 10 năm nhưng chưa có con…

Nguồn nước bí ẩn và những người cầu nước

Tên theo địa phận hành chính của làng sinh đôi là xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Làng nằm cách TP HCM khoảng chừng 66km theo hướng Bắc, trên trục Quốc lộ 1 tuyến Bắc Nam. Đôi khi, gọi là làng để bạn đọc dễ mường tượng, thực ra làng sinh đôi mang đậm chất Đông Nam Bộ, khác hẳn những làng quê ở miền Trung hoặc vùng Bắc Bộ.

Anh Trần Minh, một trong những người rất tin tưởng vào sự kỳ bí của nguồn nước ở làng sinh đôi hào hứng khi có phóng viên đến tìm hiểu xung quanh vấn đề này. Anh Minh nói, không biết câu chuyện nguồn nước khiến phụ nữ ở khu vực này thường xuyên mang thai rồi sinh đôi đúng đến đâu, nhưng chính anh là người đã chứng kiến trọn vẹn câu chuyện người cầu nước.

Anh Minh kể người dân nơi này liên tục tiếp đón những đôi vợ chồng hiếm muộn đến đây xin nước về uống cầu con. Xin nước thì cho thôi, hoàn toàn không có chuyện mua bán hoặc đổi chác gì tại nơi này. Đó là điều chắc chắn.

Có lúc, năm ba cặp vợ chồng đứng tuổi ngồi taxi, thuê hẳn một chiếc xe tải với can nhựa lỉnh kỉnh về làng xin nước uống. Đến đó rồi đi đó, hiệu quả đến đâu, có được con hay không thì không ai có thể đoán chắc. Hiện tượng chỉ là hiện tượng, và lời đồn sẽ mãi mãi là lời đồn nếu như không có câu chuyện của người phụ nữ "cầu nước" vào tháng 4/2003.

Một ngày đầu tháng 4/2003, anh Trần Minh tiếp đón một cặp vợ chồng tương đối đứng tuổi. Họ nói là có người quen ở làng sinh đôi này, nghe chuyện nguồn nước nên muốn đến xin anh vài...  trăm lít về uống nhằm cầu con. Cặp vợ chồng đó mang theo khoảng 10 cái can nhựa loại 30 lít, đong nước đầy tràn và thuê xe chở về TP HCM. Ít lâu sau anh nhận được tin người phụ nữ hôm trước đã có mang và sinh được một cặp con trai rất kháu khỉnh. Thấy chúng tôi bán tín bán nghi, anh Minh gần như bắt buộc chúng tôi theo anh để đến gặp người làm chứng nhằm đoan chắc rằng anh không... nói xạo.

Từ quốc lộ, theo chân anh Trần Minh đi qua những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, chúng tôi đã tìm đến được nhà người làm chứng. Theo lời kể của anh Minh, người làm chứng cũng đã từng theo nghề báo, nhưng giờ đã gác  bút, về nhà làm vườn hưởng thú điền viên.

Anh giới thiệu mình tên Bình, yêu cầu không kể về anh, chỉ nói về trường hợp người phụ nữ cầu nước là em vợ anh. Anh Bình rào đón là không biết đích xác có phải do uống nguồn nước từ làng sinh đôi hay không, vì trước khi xin nước từ làng sinh đôi về uống, vợ chồng người em anh cũng đã đi chữa chạy nhiều nơi từ đông y đến tây y nhưng không có kết quả. Và rồi, anh với tay, bấm điện thoại cho chúng tôi trao đổi với người phụ nữ kia.

Qua điện thoại, chị giới thiệu mình tên là Mai Kim Lan, nhà ở đường Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận Đông, quận 7, TP HCM. Chị lập gia đình vào năm 1993, khi đó hai vợ chồng sức khỏe đều bình thường và tin chắc mình sẽ nhanh chóng có con. Nhưng rồi đến hơn 4 năm sau, anh chị đã dùng mọi biện pháp từ canh ngày cho đến kiêng cữ theo cách mà nhiều người mách bảo nhưng vẫn không có kết quả.

Sốt ruột, anh đưa chị đi chữa nhiều nơi, hễ nghe đâu có người chữa vô sinh hay là anh chị tìm đến. Tuy nhiên, nhiều năm trôi qua niềm hy vọng của anh chị ngày một tắt dần. Cho đến khi, anh Bình gọi điện thoại cho chị Lan, nói hú họa rằng hay chị về làng sinh đôi, xin nước uống thử biết đâu lại có con. Hết cách, chị buộc phải đồng ý với lời đề nghị này.

Chị chỉ xin nước duy nhất vào cái lần tháng 4/2003, mang nước về TP HCM, chị uống ròng rã trong vòng vài tháng trời. Không biết có phải là do việc chạy chữa trước kia của anh chị đã có kết quả hay là do nguồn nước đặc biệt mà đến tháng 10/2003 thì chị có thai. Khỏi phải nói niềm vui của hai vợ chồng chị Lan lớn như thế nào. Mòn mỏi đợi con gần 10 năm trời và giờ giấc mơ đó mới thành sự thật. Niềm vui của anh chị còn lớn hơn bởi vào năm 2004 chị sinh được hai cậu con trai rất bụ bẫm và kháu khỉnh.

Chị nói với giọng rất vui trong điện thoại, hai cháu giờ nghịch lắm, hiếu động vô cùng và hiện đang theo học lớp chồi Trường mầm non 19-5 ở quận 7. Khi chúng tôi vừa trao đổi với chị Lan xong, anh Minh nói với vẻ rất sảng khoái: "Thấy chưa, giờ mấy anh tin tui là không nói xạo nữa rồi chứ gì? Trường hợp của tin đồn như thế nào thì tui không biết. Nhưng riêng chuyện của dì Lan tui biết rất rõ vì tui chứng kiến từ đầu đến cuối mà", anh vừa cười vừa trần tình.

Tuy nhiên, sau khi chị Lan có mang, anh Bình có đến nhà anh Trần Minh xin nước cho một cô em họ ở Đà Nẵng uống cầu con nhưng người em này của anh Bình đã không mang thai. Anh Bình cho rằng có lẽ tại nước di chuyển xa quá nên đã mất linh nghiệm (?!).

Trở lại câu chuyện cầu nước của chị Lan, trước khi cúp máy, chị cũng cho biết thêm rằng nhiều người bạn của chị cũng bị hiếm muộn, được chị giới thiệu về làng sinh đôi xin nước uống và hầu như tất cả hiện nay đều đã có con. Nhưng không phải ai cũng sinh đôi như chị, họ chỉ sinh một mà thôi. "Có thể là do họ uống nước ít quá nên không thể... sinh đôi(?!)", chị Lan nói. --PageBreak--

Làng sinh đôi sao không là một điểm du lịch?

Làng sinh đôi bao gồm 4 ấp: Hưng Nghĩa, Hưng Nhơn, Hưng Thạnh và Hưng Hiệp. Tỉ lệ sinh đôi của các hộ gia đình tập trung đông nhất là ở ấp Hưng Hiệp, nên đôi lúc, người ta vẫn gọi đùa Hưng Hiệp là "Ấp sinh đôi ở làng sinh đôi".

Ông Bùi Văn Thiên, một trong những người lớn tuổi ở làng sinh đôi cho biết, cái chuyện sinh đôi của làng đã có từ hơn nửa thế kỷ trước. Ngày ông còn bé, cả làng đã xì xầm chuyện sao mà làng nhiều cặp song sinh đến thế. Nhưng cái thuở ấy, xì xầm rồi thôi, chẳng ai ngạc nhiên, chẳng ai đủ thời gian để bàn đến. Họ phải còn nhiều việc để làm nhằm thoát cái đói hơn là chuyện ngồi tính xem có bao nhiêu cặp song sinh trong làng mình.

Xã Hưng Lộc cách đây hơn nửa thế kỷ là vùng hoang sơ. Người già kể lại, Hưng Lộc là những cánh rừng hoặc những bãi đất hoang chờ người khai phá. Người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp, trồng lúa và mì (sắn). Mãi về sau người ta mới trồng thêm tiêu, điều và cà phê.

Trở lại chuyện làng có tỉ lệ sinh con song sinh nhiều nhất nước, mãi cho đến tận bây giờ, vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào lý giải xác đáng hiện tượng trên. Họ chỉ phỏng đoán là có thể do nguồn nước, khí hậu cộng thổ nhưỡng khiến người dân ở đây dễ sinh đôi hơn là ở những nơi khác. Các nhà khoa học đoán vậy, còn người dân thì vẫn tin vào nguồn nước của làng mình là nguyên nhân chính cho cái chuyện... hay sinh đôi.

Anh Lê Văn Báu, Công an ấp Hưng Hiệp khi nghe chúng tôi nói chuyện làng sinh đôi mấy năm nay có gì khác không? "Sinh đôi là sinh đôi chứ có gì đâu mà khác. Duy chỉ có điều, bây giờ sinh đôi không rộ (nhiều) như trước đây nữa", anh Báu cho biết. Cách đây độ 3 năm, tỉ lệ sinh đôi của làng đã giảm đi đáng kể. Người ta cũng thôi bàn tán chuyện nhà này liệu có tiếp tục đẻ con sinh đôi hay không.

Chị Trần Thị Thanh Thúy, kết hôn năm 1989. Hơn một năm sau chị có đứa con trai đầu lòng. Thấy cái thai đầu lòng không là song sinh, chị nghĩ có khi cái chuyện song sinh ở đây đã hết, nhưng 6 năm sau, khi mang thai lần hai, chị đã cho ra đời cặp song sinh Trần Quang Mạnh và Trần Quang Hiệp.

Chị nói chị sống ở làng sinh đôi này từ nhỏ, nên cái chuyện chị sinh đôi cũng chẳng lạ gì. Hai người bạn chơi thân với chị thuở còn con gái, lấy chồng ở nơi khác cũng cho ra đời hai cặp song sinh như chị. "Có khi nào hồi tụi tui còn con gái, đi chơi bị "vướng" cái gì nên giờ lấy chồng phải sinh đôi không chú?", chị hỏi. "Vậy không lẽ nhiều người trong làng đều "vướng" phải cái mà chị vướng hay sao", chị cười khi nghe câu trả lời của chúng tôi.

Khi chúng tôi xin ghi hình Mạnh và Hiệp, chị Thúy rất vui lòng. Chỉ có hai cậu con trai song sinh này là cứ càm ràm: "Chụp hình hoài, nhà báo cứ chụp hình hoài". Vậy mà khi chúng tôi cho hai cậu coi hình mình qua màn hình máy ảnh, cả hai cứ tấm tắc khen hình đẹp, rồi sau đó mới nói nhỏ: "Chú làm ở báo nào vậy? Khi nào báo ra chú nhớ cho con tờ báo để con coi hình hai anh em con, nha".

Cặp song sinh Bùi Thị Yến Như - Bùi Thị Yến Nhi.

Cách nhà của chị Thúy một hộ, trong cái sân mát rười rượi, cặp song sinh Bùi Thị Yến Nhi và Bùi Thị Yến Như đang ngồi trên chiếc xe Honda cũ của ông nội hát líu lo. Như và Nhi là con đầu lòng của chị Văn Thị Mỹ Dung và anh Bùi Thanh Hào.

Chị Dung nói là cái hồi mang thai, chị cũng tin rằng mình sẽ sinh đôi, tự nhiên tin vậy thôi. Tuy nhiên, chị sinh Nhi và Như thiếu tháng. Lúc hai đứa ra đời chỉ cân nặng hơn 1kg, phải nuôi trong lồng kính. Anh chị phải vất vả lắm mới nuôi hai cháu lớn được đến bây giờ.

Ông nội Nhi và Như góp thêm câu chuyện bằng lời bông đùa: "Sau này một đứa học giỏi, một đứa học dở thì khi đi thi đại học, chỉ cần một đứa là thi cho cả hai đứa rồi". Nhi và Như rất xinh, có lần mấy nhà báo bên đài truyền hình nào đó của Hàn Quốc qua làm phóng sự tài liệu về làng sinh đôi cứ tấm tắc khen hai chị em.

Có những gia đình di dân vào đây sinh sống, chỉ ít lâu sau đột nhiên cũng... sinh đôi. Như gia đình ông Dần, cách đây hơn 4 năm khi cả nhà ông từ miền Bắc vào đây lập nghiệp, ông đã có 4 người con cả trai lẫn gái. Nhưng chỉ hơn một năm sau, vợ ông mang thai và lần này, ông có hẳn... một cặp con trai.

Hay như đôi vợ chồng trẻ từ nơi khác đến nơi này làm ăn, nhiều người trong làng bảo người vợ đừng uống nước nơi này kẻo lại đẻ con song sinh. Nghe chuyện, chị chỉ cười không đáp. Nào ngờ, khi chị có mang và sinh con thì có ngay một cặp con trai...

Còn rất nhiều câu chuyện về những cặp song sinh khác mà chúng tôi thu thập được. Một số người con gái từ làng sinh đôi đi làm dâu ở xứ khác, khi sinh con đầu lòng cũng sinh đôi, như chị Tuyết Minh chẳng hạn. Chị là con gái làng sinh đôi, theo chồng về xứ Bàu Hàm làm dâu, hơn năm sau chị đã sinh cho gia đình chồng một.. cặp con gái.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, làng sinh đôi Hưng Lộc không phải là vùng đất duy nhất ở nước ta có nhiều cặp sinh đôi. Chẳng hạn, có một làng đánh cá ở Cửa Lò, thuộc xã Nghi Thủy, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cũng có hơn chục cặp song sinh. Hay riêng thôn 6 của xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh có tới hơn 20 cặp sinh đôi. Hoặc xóm sinh đôi ở khu chợ Xóm Cháy (hẻm Giáo xứ Hòa Bình thuộc khu phố 7, P.3, Gò Vấp, TP HCM) từ cặp sinh đôi đầu tiên ra đời năm 1992, nay đã có hơn 10 cặp sinh đôi lớn lên tại xóm nhỏ này...

Nếu tính riêng tỉ lệ sinh đôi cao như ở làng sinh đôi Hưng Lộc, hiện tại, theo tài liệu thì chỉ có hai nơi trên thế giới có thể sánh bằng. Một là làng Pleucadeuc ở vùng biên giới nước Pháp: làng Pleucadeuc có 1.400 dân thì có 31 cặp sinh đôi, tính trung bình cứ 35 người thì có một cặp sinh đôi (tỉ lệ này biến đổi theo từng năm). Hai là làng Kodinji thuộc thị trấn Malappuram, bang Kerala, một ngôi làng hẻo lánh ở  miền Nam Ấn Độ, làng có hơn 100 cặp song sinh. 90% số cặp song sinh ở độ tuổi dưới 18, hầu hết trong số đó đều là sinh đôi cùng giới.

Ngồi trò chuyện với những người dân ở làng sinh đôi, bất chợt chúng tôi nảy ra ý nghĩ rằng bản thân làng sinh đôi đã có thể gây tò mò cho bất cứ ai tại nước ta, cũng như khách du lịch khi đặt chân đến Việt Nam. Sao không thử tổ chức một tour du lịch tham quan làng sinh đôi như là một điểm đến trong hành trình du lịch của du khách? Còn chuyện quy hoạch làng sinh đôi như thế nào, hợp tác với người dân ra sao trong chuyện kinh doanh du lịch thì là... chuyện của nhà đầu tư. Chúng tôi chỉ thử xin hiến kế như thế.

Bao giờ làng sinh đôi còn giữ bí ẩn về nguồn nước của mình, thì khi đó, chắc chắn rằng sự tò mò sẽ níu chân người khác để về tìm hiểu ngôi làng kỳ lạ này. Chúng tôi cũng mong các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu nhằm làm rõ về hiện tượng song sinh ở khu vực này

Kinh Hữu
.
.
.