Chuyện ghi ở hai xã ngã ba biên giới

Thứ Tư, 17/02/2010, 20:40
Trên toàn tuyến biên giới của nước ta suốt từ Bắc vào Nam chỉ có 2 nơi đường biên giới hợp lại thành ngã ba là ở xã Sín Thầu (Mường Nhé, Điện Biên) và xã Bờ Y (Ngọc Hồi, Kon Tum). Cuối năm 2009, đầu 2010 tôi có may mắn được đặt chân tới hai địa danh này và chứng kiến nhiều sự đổi thay ở nơi đây.

Bờ Y "bừng sáng"

Cách đây khoảng chừng 10-20 năm, có thể nói Sín Thầu và Bờ Y đều là những địa danh khá xa lạ và đầy bí ẩn với phần lớn người dân. Kinh tế chỉ là tự cung tự cấp; văn hóa, y tế, giáo dục... lạc hậu vào bậc nhất trong cả nước. Thế nhưng tại thời điểm này, khi mà xã Sín Thầu đang có những biến chuyển một cách "từ từ" thì Bờ Y lại đang có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. "Chú voi con" Bờ Y đang vươn vai để trở thành một “đại tượng”, không chỉ làm thay da đổi thịt ở khu vực ngã 3 biên giới mà còn góp phần làm bừng sáng cả một dải miền Trung - Tây Nguyên.

Từ trung tâm TP Kon Tum, mất khoảng 1 giờ 30 phút tới xã Bờ Y. Trái ngược với dự đoán của tôi khi đặt chân lên Kon Tum, càng đi gần tới khu vực ngã ba biên giới thì chất lượng đường sá không những không thấy xấu đi mà lại cứ ngày càng to hơn, rộng hơn và phẳng phiu hơn. Có thể nói, dù trí tưởng tượng có phong phú đến mấy, ít ai có thể nghĩ rằng từ thị trấn Plei Kần (huyện lị Ngọc Hồi) để vào xã Bờ Y lại có một con đường có bề rộng tới gần 34m, láng nhựa phẳng lỳ.

Mang tiếng là thị trấn của một huyện miền núi, song Plei Kần đang có cơ sở vật chất khá "hoành tráng".  Phần lớn các thị trấn vùng cao mà tôi từng tới đều có chung một khung cảnh tương đối đìu hiu. Đơn cử thị trấn Mường Nhé của huyện Mường Nhé, tại thời điểm này ngoài một vài khu nhà hành chính trọng yếu thì chỉ có vài dãy nhà dân buôn bán những nhu yếu phẩm thiết yếu cho nhân dân trong huyện.

Đằng này, ở Plei Kần lúc nào xe cộ cũng đi lại như mắc cửi. Có cả xe taxi sẵn sàng phục vụ 24/24. Hệ thống nhà hàng, khách sạn (có cả xông hơi, massage...) cũng đầy đủ như ở các thành phố lớn. Được biết, hệ thống điện đường trường, trạm ở đây đã về tới từng xã. Internet tốc độ cao cũng có mặt từ vài năm trước. Có cảm tưởng như đang sống tại một thị xã nào đó ở miền xuôi.

Phải cho tới khi cùng anh Trần Hữu Lượng, Phó ban Kế hoạch - Đầu tư (thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y) lên thăm cột mốc, tôi mới có cảm giác là mình đang ở... miền núi. Con đường từ trung tâm xã lên cột mốc tương đối nhỏ và dốc, song vẫn còn "ngon chán" so với những con đường lên các cột mốc ở Tây Bắc, Tây Nghệ An... mà tôi đã từng đi. Hai bên đường chủ yếu là những cây le (loại cây cùng họ với tre, trúc), thoảng có những gốc sắn, gốc cà phê bà con đang trồng.

Leo chừng 40 phút, chúng tôi đã chạm tới ngọn đồi, nơi đặt cột mốc ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Vượt qua mấy trăm bậc thang được xây bằng đá rất chắc chắn, tôi chính thức đặt chân lên địa điểm mà chỉ nhích nửa bước chân là coi như đã sang một quốc gia khác. Cột mốc có độ cao 2m, nằm trên một trụ đá hình tròn, chu vi chừng 1m đồng thời đặt trên 3 bệ đá cùng là 3 hình tròn đồng tâm. Bệ đá ngoài cùng có đường kính tới 10m, là đỉnh của một ngọn đồi cao 1.080m. Nó cũng được khắc ba mặt là quốc huy và tên quốc gia bằng ngôn ngữ của nước đó. Tính từ cột mốc số 0 thì mỗi mặt như hình chiếc nan quạt ngoảnh về quốc gia ấy.

Từ đây nhìn xuống khung cảnh của 3 quốc gia không có gì khác nhau lắm. Vẫn là đồi núi trập trùng, thoảng có những vệt màu vàng là những con đường đi nương của bà con, đường tuần tra của bộ đội biên phòng... Và bầu trời, chưa bao giờ tôi thấy trời ở đâu xanh đến thế. Màu xanh của nền trời, của cây rừng, của thảm cỏ. Và nắng, nắng vàng như rót mật khiến cho những bông hoa tam giác mạch ánh lên một màu tím thật quyến rũ. Cảnh tượng đẹp đến nỗi không ai nỡ quay bước...

Đêm hôm ấy chúng tôi ngủ lại ở Bờ Y. Trưởng thôn Thao Thượng Ác (thôn Iệc, Bờ Y) mua một... két bia về tiếp đãi. Anh gãi đầu: "Tiếc quá, nhẽ ra phải tiếp các anh bằng rượu cần của dân tộc chúng tôi. Song do thời gian gấp gáp quá chưa lo được...". Cũng theo anh Ác, bia "Sài Gòn đỏ" lần đầu có mặt tại Bờ Y từ khoảng từ năm 1999 đến 2000 - khi mà con đường từ thị trấn Plei Kần vào xã được hoàn thành.

Trước đó Bờ Y là một trong những xã đói nghèo, lạc hậu nhất của Kon Tum nói riêng, cả nước nói chung. Có những hộ dân mà việc đi nương chỉ đủ ăn 3 tháng. 9 tháng còn lại đói dài. Nguyên nhân chủ yếu là địa hình bị chia cắt bởi đồi núi, đường giao thông cùng cơ sở hạ tầng ở xã hầu như chưa có gì.

Thời kỳ ấy, từ thị xã Kon Tum muốn vào Bờ Y thì phải mất vài ngày. Sau khoảng 60km ngồi ôtô sẽ là cung đường rừng vô cùng hoang vu, hiểm trở. Đoạn đường 20km từ Plei Kần vào tới Dốc Muối chỉ là tuyến đường đất đỏ phồng rộp lên khi Tây Nguyên vào mùa khô. Còn mùa mưa, đó chỉ là tuyến đường mòn nhão nhoét bùn, vào ra chỉ có nước đi... bộ, leo dốc gối đụng phải cằm.

Tuy nhiên, những chuyện ấy bây giờ chỉ còn là ký ức của những người lớn tuổi. Lớp trẻ Bờ Y hiện tại đang được hưởng những thành quả từ chính sách của Nhà nước. Vẫn theo anh Trần Hữu Lượng, nhìn trên bản đồ, có thể thấy Bờ Y có một vị trí địa lý khá đặc biệt. Tiếp giáp với nước bạn Lào phía tây bắc và Campuchia phía tây nam - Bờ Y là giao điểm của "con đường tơ lụa" nối liền các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ của Việt Nam với một không gian địa lý - kinh tế rộng lớn về phía tây bao gồm: nam là Lào, đông bắc là Thái Lan, Campuchia và Myanmar...

Nếu đi từ các tỉnh duyên hải miền Trung, miền đông Nam Bộ đến các tỉnh đông bắc của Thái Lan, nam Lào và Myanmar qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y, lộ trình sẽ ngắn hơn 1.300km so với đi qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị).

Do xác định cửa khẩu quốc tế Bờ Y có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế không chỉ của Tây Nguyên, mà còn cả miền Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung nên Chính phủ đã từng bước xúc tiến việc nghiên cứu hình thành một khu kinh tế cửa khẩu có vai trò như vùng kinh tế động lực của Tây Nguyên và một đô thị mới của Đông Dương.

Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định về việc ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y (KKTCK Bờ Y) với quy mô: Gồm 6 xã (Saloong, Đắk Kan, Bờ Y, Đắk Xú, Đắknông, Đắk Dục), 1 thị trấn (Plei Kần) và 1 khu trung tâm. Với định hướng không gian 68.750ha, KKTCK sẽ được quy hoạch khu đô thị 9.000ha, cảng hàng không quốc tế 1.000ha và các khu thương mại quốc tế, khu công nghiệp, khu dịch vụ vui chơi giải trí và các khu dân cư hạ tầng có quy mô, mỗi hộ dân đạt 300m2 trở lên, để trở thành một khu đô thị văn minh, hiện đại.--PageBreak--

Sín Thầu - vẫn còn nhiều khó khăn

Cũng là xã ngã ba biên giới, nhưng vị trí địa lý, địa hình của Sín Thầu gần như nằm tại "điểm cụt". Chỉ cách đây ít năm, riêng chuyện nghĩ đến việc đặt chân tới thị trấn Mường Nhé cũng khiến nhiều người lắc đầu lè lưỡi. Còn từ Mường Nhé vào Sín Thầu  thì ngoài việc đi bộ ra, chỉ có dùng... máy bay trực thăng mới vào được đến nơi.

Có mặt tại Sín Thầu năm nay, chúng tôi cảm nhận được khá nhiều đổi thay trong đời sống của đồng bào các dân tộc. Nhiều tuyến đường giao thông liên xã, liên bản được sửa chữa, nâng cấp, làm mới; đường xe ôtô đã đến được 100% trung tâm các xã. Tuyến đường giao thông chính từ huyện Mường Chà đến xã Mường Nhé dài gần 150km tuy còn một số đoạn "xóc long tóc gáy", song cơ bản là đã tốt hơn trước rất nhiều. Những chiếc cầu bắc qua những con suối dài hàng trăm mét cũng đã được xây dựng.

Bên cạnh đó, các bước xây dựng cửa khẩu A Pa Chải của Mường Nhé tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đang được xúc tiến khá mạnh mẽ. Nhân dân nhiều bản của Sín Thầu, Sen Thượng, Leng Su Sìn giờ đã có thể mang nông sản bán sang nước bạn.

Trước đây, những thứ người dân sản xuất, làm ra, muốn bán cũng phải mất mấy ngày đường đi bộ mới bán hoặc trao đổi được, thậm chí ngày tết người dân phải dùng ngựa đi bộ từ 7 đến 10 ngày mới mua bán được một số hàng hóa cần thiết ở huyện lị; nay thì mọi thứ hàng hóa đều rất thuận tiện, người dân có thể mua bán, trao đổi ngay tại trung tâm xã hoặc tại bản, tại nhà.

Trên đường lên thăm cột mốc biên giới số 2, chúng tôi gặp chị Pờ Si Mi ở bản Tá Miếu đang vận chuyển... phân trâu, bò qua bán bên nước bạn. Chị cho biết, mỗi bao bán được 8 nhân dân tệ (tương đương với hơn 20 ngàn đồng). Chẳng trách trên các con đường trong xã sạch bóng... phân trâu bò.

Đoàn công tác báo CAND cùng các chiến sĩ đồn biên phòng 317 bên cột mốc số 3 (Sín Thầu, Mường Nhé, Điện Biên).

Tuy vậy, cuộc sống của nhân dân trong xã vẫn còn rất nhiều khó khăn. Ông Pờ Dần Sinh, Chủ tịch xã Sín Thầu cho chúng tôi biết. Có những khó khăn do khách quan như địa hình chia cắt, đường sá giao thông đi lại còn vất vả, điện lưới cũng chưa về tới bản. Song một phần cũng do người dân ở đây có những nhận thức chưa đúng. Đơn cử như chuyện có những đơn vị làm đường muốn mướn nhân công tại xã nhưng không hề đơn giản. Dù được trả công khá cao, song nhiều người dân vẫn "mặc cảm" là đi làm thuê, nên kiên quyết không làm. Trong khi ruộng nương họ làm quanh năm có khi không đủ ăn.

Ông Pờ Xì Tài, nguyên Bí thư Chi bộ xã kể thêm. Năm ngoái, Nhà nước có chính sách hỗ trợ người dân nghèo bằng trâu, bò. Thế nhưng các cán bộ khi đưa trâu xuống thì có nhiều con bị bệnh, thậm chí có những con vừa trao cho dân bản xong thì đã... lăn quay ra chết. Rồi dịch tụ huyết trùng của trâu bò được dịp bùng phát. Suốt một dải từ Chung Chải, Sen Thượng, Tả Co San, Sín Thầu... trâu chết như ngả rạ. Nhà chết ít thì một, hai con; còn như ông Tài, ông Pờ Dần Sinh thì hơn chục con. Trâu thả rông ở rừng thì chết luôn trong rừng, cả một vùng rừng núi lúc nào cũng khăm khẳm mùi tử khí... trâu.

Cũng trong chuyến đi công tác xã hội tại huyện Mường Nhé, chúng tôi đã có dịp tới thăm Trường tiểu học Mường Nhé 2. Tuy chỉ cách trung tâm huyện chừng 5km, song điều kiện cơ sở vật chất của ngôi trường này phải nói là vô cùng khó khăn. Có 13 lớp từ lớp 1 đến lớp 5 đang phải học chung 2 dãy phòng với tổng cộng 6 phòng học. Tất cả đều trong tình trạng xiêu vẹo, dột nát.

Cô Nguyễn Thị Minh Hồng, Hiệu trưởng nhà trường cho chúng tôi biết. Khi tiếp quản ngôi trường, chỉ duy nhất khu nhà Hội đồng dành cho ban giám hiệu được ghép bằng gỗ, là do của một đơn vị bộ đội để lại. Còn các lớp học đều do giáo viên cùng các phụ huynh phải đi chặt tre đan thành tấm, lấy cỏ tranh làm mái để dựng lên. Do được dựng từ cách đây 3 năm bằng những vật liệu tạm bợ, cho nên nhiều phòng học đã bị tốc mái, phải thay bằng những tấm vải bạt. Có tấm đã rách tả tơi.

Một số bức tường được đắp bằng đất, nay cũng đã bị thủng từng mảng tướng. Mái lá dột tứ tung. Cứ có một trận mưa là cả thầy trò đều phải ù té chạy vì trong lớp và ngoài sân đều như nhau. "Chung số phận" với Trường tiểu học Mường Nhé 2 là các trường tiểu học xã Chung Chải, Nà Bủng, Nà Hỳ, Nà Khoa... đều 100% tranh tre nứa lá.

Trước khi rời Mường Nhé, người dân ở đây có dặn chúng tôi khi về Hà Nội thì nhớ chuyển giúp câu hỏi tới các cấp lãnh đạo. Rằng toàn huyện có 10 xã giáp biên thì có 5 xã là Mường Nhé, Sín Thầu, Chung Chải, Leng Su Sìn, Sen Thượng là được hưởng 100% mức phụ cấp (theo quy chế xã biên giới). Tuy nhiên còn 5 xã là Nậm Kè, Nà Bủng, Nà Hì, Nà Khoa, Na Ko Sa lại chỉ được hưởng 30%.

Kể cũng lạ, việc thực hiện chế độ chính sách cho bà con các xã giáp biên là quy định của Chính phủ. Ấy vậy mà chả hiểu sao các cơ quan thực thi chính sách là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cứ "lờ" đi, mặc dù chính quyền tỉnh Điện Biên "kêu" đã mấy năm nay rồi. Mà việc xã giáp biên không được hưởng chế độ vùng biên giới đâu chỉ có ở Điện Biên. Ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu cũng có xã như Mù Cả mặc dù có 18km giáp biên với Trung Quốc, cũng chả được. Chúng tôi rất mong lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khẩn trương rà soát lại danh sách các xã giáp biên và sửa đổi ngay chế độ cho dân được nhờ!

Minh Tiến
.
.
.