Vĩnh biệt những mùa hoa thuốc phiện

Thứ Năm, 30/06/2005, 07:17

Luật quy định phải phá bỏ các khu vực trồng cây thuốc phiện. Kẻ nào mua bán thuốc phiện thì bị xử phạt 60 trượng, xử tù 1 năm. Tịch thu toàn bộ vật chứng dùng trong buôn bán thuốc phiện. Là người nước ngoài buôn bán thuốc phiện thì bị đánh 100 trượng và tịch thu vật dụng.

Vào năm 1939 trên toàn Đông Dương có 2.500 tiệm hút và bán lẻ phục vụ cho hơn 100.000 người nghiện ma túy (2% dân số Việt Nam). Số đông những phu đồn điền, phu mỏ, người lao động thành thị tiêu sạch tiền lương trong các tiệm hút.

Cây thuốc phiện được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào những năm 1600. Cây này được trồng nhiều ở các vùng núi cao của người Mông, người Thái, người Khơ Mú miền Bắc. Vụ mùa thuốc phiện hàng năm bắt đầu vào cuối mùa hè hoặc đầu thu khi nông dân gieo hạt trên những cánh đồng đã được cuốc tơi. Quả thuốc phiện này tổng hợp một chất mủ màu trắng sữa ngay sau khi cánh hoa rụng. Thứ mủ ấy được gọi là thuốc phiện.

Tình trạng trồng và sử dụng cây thuốc phiện phát triển rất nhanh. Vào năm 1665, Nhà nước lúc bấy giờ đã ban hành đạo luật đầu tiên về “Cấm trồng cây thuốc phiện”. Đạo luật này nêu rõ: “Con trai, con gái dùng thuốc phiện để thỏa lòng dâm dật. Trộm cắp dùng nó để nhòm ngó nhà người ta”.

Đạo luật này còn quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện. Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi”.

Vào đầu thế kỷ XIX xảy ra cuộc “Chiến tranh nha phiến” giữa Trung Quốc và Anh nên tình trạng nghiện hút không ngừng tăng nhanh, “Chẳng những dân chúng mà đến cả quan lại, người quyền quý cũng đua nhau hút thuốc phiện”. Trước tình trạng ấy, triều đình nhà Nguyễn đã ban hành luật cũng như các chính sách chống ma túy "lấp nguồn, cạn dòng”.

Nguồn là nơi sản xuất ra thuốc phiện. Luật quy định phải phá bỏ các khu vực trồng cây thuốc phiện. Kẻ nào mua bán thuốc phiện thì bị xử phạt 60 trượng, xử tù 1 năm. Tịch thu toàn bộ vật chứng dùng trong buôn bán thuốc phiện. Là người nước ngoài buôn bán thuốc phiện thì bị đánh 100 trượng và tịch thu vật dụng.

Cạn dòng là giảm số người hút thuốc phiện. Luật quy định chủ hàng, chủ chứa bàn đèn hút thuốc phiện bị xử phạt 100 trượng và bị xử tù 3 năm. Người hút thuốc phiện bị phạt 100 trượng và tù 3 năm. Cha không ngăn giữ con em bị phạt 100 trượng. Quan lại hút thuốc phiện bị đánh 100 trượng và bị cách chức.

Ở Lào Cai, cây mận đã thay thế cây thuốc phiện.

Ngoài ra, triều đình đã có lệnh cấm các thuyền buôn từ Tân Châu (huyện Trác Lộc, tỉnh Trực Lệ, Trung Quốc) vào Việt Nam. Khám xét tất cả các thuyền buôn nước ngoài vào các cảng dọc theo bờ biển nước ta.

Triều đình nhà Nguyễn cũng lệnh cho những người nghiện hút hạn trong 6 tháng phải ra trình báo và cai nghiện. Các quan địa phương phải chú ý giúp người nghiện hút tìm ra biện pháp, phương pháp cai nghiện có hiệu quả.

Văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam quy định phòng ngừa tội phạm về ma túy được ban hành năm Cảnh Trị thứ 3, Nhà nước phong kiến Việt Nam quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện”.

Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong cuốn “Đại nam thực lục chính biên”, nhà vua quy định:

“Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn lêu lổng, lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường nghiện thì không thể bỏ qua được. Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật, tổn thương cơ thể, sinh mệnh. Nên bàn để cấm đi”.

Tháng 3 âm lịch năm 1824, Vua Minh Mạng ban hành thêm quy định với nhiều hình phạt nghiêm khắc hơn: “Những khách buôn ngoại quốc buôn bán thuốc phiện, quân, dân cố ý hút trộm thuốc phiện đều bị tội mãn lưu (đày đi xa ngàn dặm). Cha, anh không cấm con em, hàng xóm không tố giác đều bị tội mãn trượng (đánh 100 gậy). Các quan chức hút trộm thuốc phiện đều bị cách chức, bị phạt trượng và mãi mãi không được tái bổ nhiệm. Gia sản người phạm tội bị tịch thu và sung thưởng cho người cáo giác”.

Chính sách "Công quản Nha phiến" của  toàn quyền  Paul Doumer

Sau khi  chiếm xong Gia Định, thực dân Pháp đã hợp pháp hóa việc buôn bán ma túy và hút thuốc phiện, coi đó là phương pháp kinh doanh để tạo nên lợi nhuận một cách đơn giản, hữu hiệu nhất.

Ngày 28/12/1861, Thiếu tướng Hải quân Pháp Bonar đã ban hành một văn bản gồm 84 điều quy định liên quan đến việc mua bán thuốc phiện tại Nam Kỳ. Theo văn bản này, việc nhập khẩu thuốc phiện vào Nam Kỳ thông qua 2 cảng Sài Gòn và Chợ Lớn. Thực dân Pháp thu thuế 10% trị giá thuốc phiện nhập khẩu.--PageBreak--

Hàng năm thực dân Pháp tổ chức đấu thầu việc nhập khẩu, mua, bán thuốc phiện. Người trúng thầu sẽ được độc quyền nhập khẩu, quản lý mạng lưới bán lẻ thuốc phiện, tổ chức các tụ điểm hút thuốc phiện, tổ chức một đội ngũ “Viên chức Sở trúng thầu” để giám sát mạng lưới bán sỉ thuốc phiện.

Trong những năm của thập niên 1860, một người Hoa là Ban Hạp ở Chợ Lớn thường xuyên trúng thầu thuốc phiện và được quyền tổ chức buôn bán thuốc phiện tại Nam Kỳ. Doanh số thuốc phiện nhập khẩu vào Nam Kỳ hàng năm lên đến 500.000 quan Pháp, chiếm 50% trị giá tổng số hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (1.000.000 quan/năm). Số thuốc phiện từ nước ngoài nhập vào Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc. Năm 1862, Pháp cho nhập vào Nam Kỳ 260 thùng thuốc phiện thì có 185 thùng do các thuyền buôn Trung Quốc vận chuyển đến.

Trước tình hình thực dân Pháp “mở cửa cho thuốc phiện nhập vào Việt Nam”, Vua Tự Đức đã bỏ lệ cấm hút thuốc phiện do Vua Minh Mạng đã ban hành trước đây mà cho đấu thầu, đánh thuế để tăng nguồn thu, hàng năm thu trên 300.000 quan. Năm 1863, trong cuốn “Quốc triều chính biên” Vua Tự Đức quy định “Nay thôi cấm mà đánh thuế thật nặng để người bán ít đi, từ đó người hút cũng ít theo”.

Do chính sách buông lỏng việc quản lý chất ma túy như vậy, cho nên 10 năm sau khi Vua Minh Mạng qua đời, tệ nạn nghiện thuốc phiện và tội phạm buôn bán thuốc phiện đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam.

Tháng 6/1873, trước tình hình tệ nạn nghiện thuốc phiện, buôn bán thuốc phiện ngày càng tăng, triều đình lại ban hành trở lại lệnh “cấm thuốc nha phiến”.

Trong cuốn “Quốc triều chính biên”, Vua Tự Đức đã đặc biệt quan tâm đến quy định về phòng, chống nghiện ma túy trong học sinh, sinh viên. Nhà vua quy định “Hễ cử nhân, tú tài, học trò có nghiện thuốc phiện thì cho thời hạn 1 năm phải chữa ngay, ai không tuân thì tước tịch, bắt chịu sưu thuế, học trò không được thi khóa nữa”. Sự cấm đoán muộn màng đó không mang lại hiệu quả, song cũng hạn chế được phần nào.

Kiểm tra sự sinh trưởng của cây chè Tuyết (một trong những cây trồng chủ lực thay thế cây thuốc phiện ở Kỳ Sơn, Nghệ An).

Ngày 31/8/1858, thực dân Pháp đưa hạm đội vào cảng Đà Nẵng, mở đầu thời kỳ cai trị nước ta. Thực dân Pháp thành lập các cửa hàng bán thuốc phiện công khai tự do dưới sự quản lý của “Công quản nha phiến”. Diện tích trồng cây thuốc phiện tăng nhanh. Tuy nhiên sản phẩm thuốc phiện phải báo cho cơ quan quản lý. Người hút thuốc phiện được tự do. Vì vậy việc trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện phát triển rất nhanh.

Chính sách “Công quản Nha phiến” của thực dân Pháp  gắn liền với tên tuổi của toàn quyền Paul Doumer. Năm 1899, toàn quyền Paul Doumer cải tổ việc khai thác thuốc phiện. Ông ta sáp nhập 5 ty thuốc phiện thành một Công quản thuốc phiện" duy nhất và xây một lò nấu thuốc phiện hiện đại ở Sài Gòn để chế thuốc phiện Ấn Độ thành dạng keo đen hút được ngay.

Lò nấu này còn chế ra một hợp chất khiến keo thuốc phiện cháy nhanh hơn khiến người nghiện phải hút thêm nhiều hơn bình thường. Số tiệm bán lẻ và tiệm hút thuốc phiện tăng nhanh: vào năm 1918 ở Việt Nam đã có 1.512 tiệm hút và 3.098 tiệm bán lẻ thuốc phiện. Trong 4 năm cầm quyền số tiền thu được từ thuốc phiện của Paul Doumer đã chiếm hơn 1/3 số tiền thu nhập được từ thuộc địa.

Lao động cực nhọc, cộng với tác dụng tàn phá sức khỏe của thuốc phiện và tính trạng thiếu ăn, đã tạo ra cả một thế hệ người dân có “khuôn mặt đặc trưng là những chiếc răng trắng lạ thường; những tròng mắt với cái nhìn chòng chọc đen ngòm, mở lớn, nhìn cố định vào cái gì đó chỉ có Chúa biết; những mi mắt bất động; và trên những gò má nhợt nhạt là nụ cười bí ẩn, mơ hồ của người chết” như nhà văn người Pháp Andre' Viollis đã mô tả trong bài báo “Indochine S.O.S” 

(còn tiếp)
.
.
.